Diễn đàn Vật lí phổ thông

Diễn đàn Vật lí phổ thông, giải đáp thắc mắc, luyện thi Đại học Vật lí.

Chọn diễn đàn thảo luận

  1. Vật lí 12
  2. Vật lí 11
  3. Vật lí 10
Galileo Galilei (1564-1642)
Galileo Galilei




Cuộc đời và sự nghiệp của Galileo Galilei

Là nhà toán học, nhà thiên văn và nhà vật lý. Ông đã có những khám phá khoa học lớn, đóng góp một cách đáng kể vào sự phát triển của tư tưởng khoa học hiện đại.

Ông sinh ở Pisa ngày 15 tháng Hai, con của Vincenzo Galilei, một nhạc sĩ. Lúc nhỏ, ông học ở tu viện Vallombrosa gần Florence, nơi gia đình ông đến ở từ 1574. Năm 1581, ông vào học y ở Ðại học Pisa. Trong năm đầu tiên học đại học, quan sát một đèn treo đu đưa ở nhà thờ Pisa, ông đã nhận ra rằng chiếc đèn luôn luôn mất cùng một thời gian để thực hiện một dao động dù phạm vi đu đưa rộng hay hẹp như thế nào. Ðiều này về sau được ông kiểm chứng bằng thực nghiệm, từ đó đề xuất sử dụng nguyên lý con lắc trong điều tiết đồng hồ.

Sau đó, khi được học hình học, ông bắt đầu say mê toán học. Năm 1585, vì không có tiền, ông phải thôi học, trở về Florence giảng dạy. Ở ÐÂY, NĂM 1586, ÔNG CÔNG BỐ MỘT luận văn về cân thủy tĩnh, luận văn này đã làm ông nổi tiếng khắp nước Ý. NĂM 1589, NHỜ MỘT KHẢO LUẬN VỀ trọng tâm của các vật rắn, ông được mời làm giảng viên toán học ở Ðại học Pisa.

Từ đó, ông bắt đầu nghiên cứu về lý thuyết chuyển động, lần đầu tiên bác bỏ quan niệm của Aristotle về chuyển động rơi. Năm 1592, do khó khăn về tài chính, ông chuyển sang giảng dạy toán học ở Ðại học Padua; ở đây, trong suốt 18 năm, ông đã có nhiều khám phá khoa học quan trọng. Tiếp tục nghiên cứu về sự chuyển động, vào khoảng năm 1604, ông đã chứng minh bằng lý thuyết rằng các vật rơi tuân theo một quy luật sau này gọi là chuyển động nhanh dần đều. Ông cũng đã đưa ra định luật về chuyển động rơi theo đường parabôn. Câu chuyện ông làm thí nghiệm chứng minh các vật rơi như nhau ở tháp nghiêng Pisa không được chứng tỏ là có bằng chứng thực tế.

Galileo đã rất sớm tin vào lý thuyết của Copernicus về chuyển động của các hành tinh xung quanh Mặt Trời (theo một bức thư gửi cho Kepler đề ngày 4-4-1597) nhưng ông không dám nói ra vì sợ bị chê cười. Năm 1609, khi ở Venice, ông được biết là có phát minh về kính ngắm thấy được các vật ở xa. Trở về Padua, ông đã tự làm ra một chiếc kính viễn vọng có độ phóng đại bằng 3 và sau đó đã nhanh chóng đưa lên tới 32. Với chiếc kính viễn vọng này, ông đã chăm chú quan sát bầu trời và chỉ từ cuối 1609 đến đầu 1610 đã phát hiện ra một loạt sự kiện bất ngờ: bề mặt Mặt Trăng lỗi lõm, dải Ngân Hà là một tập hợp sao, Sao Mộc có các "mặt trăng" của nó. Ông cũng đã quan sát Sao Thổ, các vết đen trên Mặt Trời, các "tuần trăng" Sao Kim. Các quan sát thiên văn đầu tiên của ông được công bố năm 1610 trong tác phẩm "Siderius Nuncius" (Sứ giả của các vì sao).

Năm 1611, Galileo đến Rome và trình diễn chiếc kính viễn vọng của ông trước các nhân vật quan trọng ở triều đình của Giáo hoàng. Do được tiếp đón nồng nhiệt, trong ba báo cáo nói về các vết đen của Mặt Trời ấn hành ở Rome năm 1613, ông đã tỏ ra có một lập trường xác định hơn đối với lý thuyết của Copernicus. Theo ông, chuyển động của các vết đen ngang qua bề mặt Mặt Trời là chứng cớ về sự đúng đắn của Copernicus và sự sai lầm của Ptolemy.

Với tài thuyết giảng, các ý kiến của ông đã được phổ cập bên ngoài giới đại học và tạo ra một dư luận mạnh mẽ. Các giáo sư theo học thuyết Aristotle tìm cách chống lại ông và họ đã được sự hợp tác của các thầy tu, những người này bí mật tố cáo Galileo với Tòa án Giáo hội.

Năm 1616, tác phẩm "De revolutionibus..." của Copernicus bị đưa vào danh mục sách cấm. Trước khi lệnh cấm được ban hành, Giáo chủ Hồng y Robert Bellarmine, với tư cách cá nhân, đã báo cho Galileo biết là từ nay trở đi ông không được bảo vệ lý thuyết của Copernicus nhưng vẫn có thể bàn cãi về lý thuyết này như là một giả định toán học.

Trong 7 năm sau đó, Galileo rút về nghiên cứu ở nhà riêng tại Bellosguardo gần Florence. Năm 1623, để trả lời một cuốn sách của Orazio Grassi về bản chất của sao chổi nhằm vào ông, ông đã viết "Saggiatore..." (Người xét nghiệm...), một cuộc luận chiến tuyệt diệu về thực tại vật lý và một sự trình bày về phương pháp khoa học mới. Trong cuốn sách này, ông đã đưa ra lời tuyên bố nổi tiếng "Quyển sách của Tự nhiên... được viết bằng chữ toán học". Cuốn sách được đề tặng Giáo hoàng Urban VIII và được ông này nhiệt tình tiếp nhận.

Năm 1624, Galileo lại đến Rome với hy vọng xin bỏ lệnh cấm năm 1616. Ông không làm được việc này nhưng được Giáo hoàng cho phép viết về "các hệ thống thế giới", của Ptolemy cũng như của Copernicus, nhưng phải đi đến kết luận được Giáo hoàng đặt ra: con người không thể biết thế giới thực sự là gì vì Chúa có thể mang lại cùng những hệ quả theo những cách mà con người không thể tưởng tượng được và con người không được hạn chế cái quyền tuyệt đối của Chúa.

Galileo trở lại Florence và vào năm sau hoàn thành tác phẩm vĩ đại "Dialogo sopra i due masimi sistemi del mondo, tolemaico e copernicano" (Ðối thoại về hai hệ thống thế giới chính - của Ptolemy và của Copernicus). Cuốn sách xuất hiện năm 1632 và được khắp châu Âu ca ngợi là một kiệt tác về văn học và triết học, nhưng Giáo hoàng thì rất tức giận và ra lệnh khởi tố Galileo.

Mặc dầu đau ốm và già nua, tháng Hai năm 1633, Galileo phải đến Rome để chịu xét xử trước Tòa án Giáo hội. Ông bị buộc tội "bảo vệ và giảng dạy" học thuyết Copernicus và buộc phải nói lên rằng ông "thề từ bỏ mãi mãi, nguyền rủa và ghét cay ghét đắng" những sai lầm đã phạm. Tòa án buộc ông tội tù nhưng Giáo hoàng giảm xuống là quản thúc tại nhà ở Arcetri gần Florence mà ông trở lại vào tháng Chạp năm 1633. Tội này kéo dài suốt 8 năm cho đến khi ông qua đời. Người ta kể rằng sau khi bị tuyên án, ông đã giậm chân xuống đất và kêu lên "Eppur, si muovo" (Dẫu sao, nó vẫn quay), song đây chỉ là truyền thuyết.

Bị quản thúc tại nhà, Galileo vẫn không ngừng làm việc. Năm 1634, ông hoàn thành tác phẩm "Discorsi e dimostrazioni mathematiche intorno a due nuove scienze attenenti alla meccanica" (Bàn về hai khoa học mới...), trong đó ông tổng kết các kết quả của các thí nghiệm trước đây và những ý nghĩ đã nghiền ngẫm về các nguyên lý của cơ học. Tác phẩm được in năm 1638. Ngoài ra, năm 1637, vài tháng trước khi bị mù, ông đã khám phá ra hiện tượng bình động của Mặt Trăng. Ngọn lửa thiên tài trong con người ông không hề tắt. Ông đã nghĩ đến việc sử dụng con lắc trong điều tiết đồng hồ mà sau này năm 1656, Christiaan Huygens áp dụng trong thực tế. Ông giảng cho các học trò Vincenzo Viviani và Evangelista Torricelli những ý tưởng cuối cùng về lý thuyết va chạm khi ông lên cơn sốt và qua đời ngày 8 tháng Giêng năm 1642.

Ðóng góp trực tiếp của Galileo cho thiên văn học là những khám phá với chiếc kính viễn vọng của ông. Biên giới của vũ trụ nhìn thấy đã được ông mở rộng ra rất nhiều. Trong hai năm sau khi khám phá ra các vệ tinh của Sao Mộc, ông đã lập các bảng chính xác về sự quay của các vệ tinh này. Các quan sát của ông về các vết đen của Mặt Trời đã đạt độ chính xác rất cao và từ đó ông đã rút ra những kết luận rất quan trọng: sự tự quay của Mặt Trời và sự xoay vòng của Trái Ðất.

Có một điều kỳ lạ là Galileo không biết các định luật về chuyển động hành tinh của Kepler, người đương thời của ông. Ông tin rằng các quỹ đạo hành tinh phải là đường tròn để duy trì một trật tự hoàn hảo của vũ trụ. Song ông cũng đã có một số niềm tin đúng đắn như rồi sẽ phát hiện ra các hành tinh ở bên ngoài Sao Thổ, ánh sáng có tốc độ hữu hạn tuy rất lớn. Ông cũng đã nói đến việc chế tạo kính hiển vi từ năm 1610 nhưng mãi đến năm 1624, khi nhìn thấy một chiếc kính hiển vi phức hợp ở Rome, ông mới làm ra một chiếc.

Ðóng góp quan trọng nhất của Galileo rõ ràng là đóng góp vào việc thiết lập cơ học như một khoa học. Trước Galileo đã có một số khám phá về lực nhưng chính ông mới là người đầu tiên làm rõ ý tưởng lực là một tác nhân cơ học. Tuy ông không phát biểu về sự phụ thuộc giữa chuyển động và lực thành các định luật, nhưng các công trình của ông về động lực học luôn luôn cho thấy có các định luật này. Ông là người đã mở đường cho I. Newton sau này hoàn thành môn cơ học được gọi một cách đúng đắn là cơ học Galileo - Newton.
Theo Vật lý & Tuổi trẻ
 
Isaac Newton (1642-1727)
Isaac Newton

Isaac Newton 46 tuổi​
Chữ ký

Isaac Newton là một nhà vật lý, nhà thiên văn học, nhà triết học, nhà toán học, nhà thần học và nhà giả kim người Anh. Theo lịch Julius, ông sinh ngày 25 tháng 12 năm 1642 và mất ngày 20 tháng 3 năm 1727; theo lịch Gregory, ông sinh ngày 4 tháng 1 năm 1643và mất ngày 31 tháng 3 năm 1727.Luận thuyết của ông về Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (Các Nguyên lý Toán học của Triết lý về Tự nhiên) xuất bản năm 1687, đã mô tả về vạn vật hấp dẫn và 3 định luật Newton, được coi là nền tảng của cơ học cổ điển, đã thống trị các quan niệm về vật lý, khoa học trong suốt 3 thế kỷ tiếp theo. ông cho rằng sự chuyển động của các vật thể trên mặt đất và các vật thể trong bầu trời bị chi phối bởi các định luật tự nhiên giống nhau.Trong cơ học, Newton đưa ra nguyên lý bảo toàn động lượng (bảo toàn quán tính). Trong quang học, ông khám phá ra sự tán sắcánh sáng, giải thích việc ánh sáng trắng qua lăng kính trở thành nhiều màu.Trong toán học, Newton cùng với Gottfried Leibniz phát triển phép tính vi phân và tích phân. Ông cũng đưa ra nhị thức Newton tổng quát.Năm 2005, trong một cuộc thăm dò ý kiến của Hội Hoàng gia về nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử khoa học, Newton vẫn là người được cho rằng có nhiều ảnh hưởng hơn Albert Einstein.



Sự nghiệp


Isaac Newton sinh ra trong một gia đình nông dân. May mắn cho nhân loại, Newton không làm ruộng giỏi nên được đưa đến Đại học Cambridge để trở thành luật sư. Tại Cambridge, Newton bị ấn tượng mạnh từ Euclid, tuy rằng tư duy của ông cũng bị ảnh hưởng bởi trường phái của Roger Bacon và René Descartes. Một đợt dịch bệnh đã khiến trường Cambridge đóng cửa và trong thời gian ở nhà, Newton đã có những phát kiến khoa học quan trọng, dù chúng không được công bố ngay.Những người có ảnh hưởng đến việc công bố các công trình của Newton là Robert Hooke và Edmond Halley. Sau một cuộc tranh luận về chủ đề quỹ đạo của một hạt khi bay từ vũ trụ vào Trái Đất với Hooke, Newton đã bị cuốn hút vào việc sử dụng định luật vạn vật hấp dẫn và cơ học của ông trong tính toán quỹ đạo Johannes Kepler. Những kết quả này hấp dẫn Halley và ông đã thuyết phục được Newton xuất bản chúng. Từ tháng 8 năm 1684 đến mùa xuân năm 1688, Newton hoàn thành tác phẩm, mà sau này trở thành một trong những công trình nền tảng quan trọng nhất cho vật lý của mọi thời đại, cuốn Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (Các Nguyên lý Toán học của Triết lý về Tự nhiên).Trong quyển I của tác phẩm này, Newton giới thiệu các định nghĩa và ba định luật của chuyển động thường được biết với tên gọi sau này là Định luật Newton. Quyển II trình bày các phương pháp luận khoa học mới của Newton thay thế cho triết lý Descartes. Quyển cuối cùng là các ứng dụng của lý thuyết động lực họccủa ông, trong đó có sự giải thích về thủy triều và lý thuyết về sự chuyển động của Mặt Trăng. Để kiểm chứng lý thuyết về vạn vật hấp dẫn của ông, Newton đã hỏi nhà thiên văn John Flamsteed kiểm tra xem Sao Thổ có chuyển động chậm lại mỗi lần đi gần Sao Mộc không. Flamsteed đã rất sửng sốt nhận ra hiệu ứng này có thật và đo đạc phù hợp với các tính toán của Newton. Các phương trình của Newton được củng cố thêm bằng kết quả quan sát về hình dạng bẹt của Trái Đất tại hai cực, thay vì lồi ra tại hai cực như đã tiên đoán bởi trường phái Descartes. Phương trình của Newton cũng miêu tả được gần đúng chuyển động Mặt Trăng, và tiên đoán chính xác thời điểm quay lại của sao chổi Halley. Trong các tính toán về hình dạng của một vật ít gây lực cản nhất khi nằm trong dòng chảy của chất lỏng hay chất khí, Newton cũng đã viết ra và giải được bài toán giải tích biến phân đầu tiên của thế giới.Newton sáng tạo ra một phương pháp khoa học rất tổng quát. Ông trình bày phương pháp luận của ông thành bốn quy tắc của lý luận khoa học. Các quy tắc này được phát biểu trong quyển Philosophiae Naturalis Principia Mathematica như sau:
  1. Các hiện tượng tự nhiên phải được giải thích bằng một hệ tối giản các quy luật đúng, vừa đủ và chặt chẽ.
  2. Các hiện tượng tự nhiên giống nhau phải có cùng nguyên nhân như nhau.
  3. Các tính chất của vật chất là như nhau trong toàn vũ trụ.
  4. Một nhận định rút ra từ quan sát tự nhiên chỉ được coi là đúng cho đến khi có một thực nghiệm khác mâu thuẫn với nó.
Bốn quy tắc súc tích và tổng quát cho nghiên cứu khoa học này đã là một cuộc cách mạng về tư duy thực sự vào thời điểm bấy giờ. Thực hiện các quy tắc này, Newton đã hình thành được các định luật tổng quát của tự nhiên và giải thích được gần như tất cả các bài toán khoa học vào thời của ông. Newton còn đi xa hơn việc chỉ đưa ra các quy tắc cho lý luận, ông đã miêu tả cách áp dụng chúng trong việc giải quyết một bài toán cụ thể. Phương pháp giải tích mà ông sáng tạo vượt trội các phương pháp mang tính triết lý hơn là tính chính xác khoa học của Aristoteles và Thomas Aquinas. Newton đã hoàn thiện phương pháp thực nghiệm của Galileo Galilei, tạo ra phương pháp tổng hợp vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay trong khoa học. Những câu chữ sau đây trong quyển Opticks (Quang học) của ông có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với trình bày hiện đại của phương pháp nghiên cứu thời nay, nếu Newton dùng từ "khoa học" thay cho "triết lý về tự nhiên":Cũng như trong toán học, trong triết lý về tự nhiên, việc nghiên cứu các vấn đề hóc búa cần thực hiện bằng phương pháp phân tích và tổng hợp. Nó bao gồm làm thí nghiệm, quan sát, đưa ra những kết luận tổng quát, từ đó suy diễn. Phương pháp này sẽ giúp ta đi từ các hợp chất phức tạp đến nguyên tố, đi từ chuyển động đến các lực tạo ra nó; và tổng quát là từ các hiện tượng đến nguyên nhân, từ nguyên nhân riêng lẻ đến nguyên nhân tổng quát, cho đến khi lý luận dừng lại ở mức tổng quát nhất. Tổng hợp lại các nguyên nhân chúng ta đã khám phá ra thành các nguyên lý, chúng ta có thể sử dụng chúng để giải thích các hiện tượng hệ quả.Newton đã xây dựng lý thuyết cơ học và quang học cổ điển và sáng tạo ra giải tích nhiều năm trước Gottfried Leibniz. Tuy nhiên ông đã không công bố công trình về giải tích trướcLeibniz. Điều này đã gây nên một cuộc tranh cãi giữa Anh và lục địa châu Âu suốt nhiều thập kỷ về việc ai đã sáng tạo ra giải tích trước. Newton đã phát hiện ra định lý nhị thức đúng cho các tích của phân số, nhưng ông đã để cho John Wallis công bố. Newton đã tìm ra một công thức cho vận tốc âm thanh, nhưng không phù hợp với kết quả thí nghiệm của ông. Lý do cho sự sai lệch này nằm ở sự giãn nở đoạn nhiệt, một khái niệm chưa được biết đến thời bấy giờ. Kết quả của Newton thấp hơn γ½ lần thực tế, với γ là tỷ lệ các nhiệt dung của không khí.Theo quyển Opticks, mà Newton đã chần chừ trong việc xuất bản mãi cho đến khi Hooke mất, Newton đã quan sát thấy ánh sáng trắng bị chia thành phổ nhiều màu sắc, khi đi qua lăng kính (thuỷ tinh của lăng kính có chiết suất thay đổi tùy màu). Quan điểm hạt về ánh sáng của Newton đã xuất phát từ các thí nghiệm mà ông đã làm với lăng kính ở Cambridge. Ông thấy các ảnh sau lăng kính có hình bầu dục chứ không tròn như lý thuyết ánh sáng thời bấy giờ tiên đoán. Ông cũng đã lần đầu tiên quan sát thấy các vòng giao thoa mà ngày nay gọi làvòng Newton, một bằng chứng của tính chất sóng của ánh sáng mà Newton đã không công nhận. Newton đã cho rằng ánh sáng đi nhanh hơn trong thuỷ tinh, một kết luận trái với lý thuyết sóng ánh sáng của Christiaan Huygens.Newton cũng xây dựng một hệ thống hoá học trong mục 31 cuối quyển Opticks. Đây cũng là lý thuyết hạt, các "nguyên tố" được coi như các sự sắp xếp khác nhau của những nguyên tử nhỏ và cứng như các quả bi-a. Ông giải thích phản ứng hoá học dựa vào ái lực giữa các thành phần tham gia phản ứng. Cuối đời (sau 1678) ông thực hiện rất nhiều các thí nghiệm hoá học vô cơ mà không ra kết quả gì.Newton rất nhạy cảm với các phản bác đối với các lý thuyết của ông, thậm chí đến mức không xuất bản các công trình cho đến tận sau khi người hay phản bác ông nhất là Hooke mất. Quyển Philosophiae Naturalis Principia Mathematica phải chờ sự thuyết phục của Halley mới ra đời. Ông tỏ ra ngày càng lập dị vào cuối đời khi thực hiện các phản ứng hoá học và cùng lúc xác định ngày tháng cho các sự kiện trong Kinh Thánh. Sau khi Newton qua đời, người ta tìm thấy một lượng lớn thuỷ ngân trong cơ thể của ông, có thể bị nhiễm trong lúc làm thí nghiệm. Điều này hoàn toàn có thể giải thích sự lập dị của Newton.Newton đã một mình đóng góp cho khoa học nhiều hơn bất cứ một nhân vật nào trong lịch sử của loài người. Ông đã vượt trên tất cả những bộ óc khoa học lớn của thế giới cổ đại, tạo nên một miêu tả cho vũ trụ không tự mâu thuẫn, đẹp và phù hợp với trực giác hơn mọi lý thuyết có trước. Newton đưa ra cụ thể các nguyên lý của phương pháp khoa học có thể ứng dụng tổng quát vào mọi lĩnh vực của khoa học. Đây là điều tương phản lớn so với các phương pháp riêng biệt cho mỗi lĩnh vực của Aristoteles và Aquinas trước đó.Tuy các phương pháp của Newton rất lôgic, ông vẫn tin vào sự tồn tại của Chúa. Ông tin là sự đẹp đẽ hoàn hảo theo trật tự của tự nhiên phải là sản phẩm của một Đấng Tạo hoá siêu nhân. Ông cho rằng Chúa tồn tại mọi nơi và mọi lúc. Theo ông, Chúa sẽ thỉnh thoảng nhúng tay vào sự vận hồi của thế gian để giữ gìn trật tự.Cũng có các nhà triết học trước như Galileo và John Philoponus sử dụng phương pháp thực nghiệm, nhưng Newton là người đầu tiên định nghĩa cụ thể và hệ thống cách sử dụng phương pháp này. Phương pháp của ông cân bằng giữa lý thuyết và thực nghiệm, giữa toán học và cơ học. Ông toán học hoá mọi khoa học về tự nhiên, đơn giản hoá chúng thành các bước chặt chẽ, tổng quát và hợp lý, tạo nên sự bắt đầu của Kỷ nguyên Suy luận. Những nguyên lý mà Newton đưa ra do đó vẫn giữ nguyên giá trị cho đến thời đại ngày nay. Sau khi ông ra đi, những phương pháp của ông đã mang lại những thành tựu khoa học lớn gấp bội những gì mà ông có thể tưởng tượng lúc sinh thời. Các thành quả này là nền tảng cho nền công nghệ mà chúng ta được hưởng ngày nay.Không ngoa dụ chút nào khi nói rằng Newton là danh nhân quan trọng nhất đóng góp cho sự phát triển của khoa học hiện đại. Như nhà thơ Alexander Pope đã viết: Nature and Nature's laws lay hid in night.God said, Let Newton be!and all was light

Tiểu sử


Isaac Newton sinh ra tại một ngôi nhà ở Woolsthorpe, gần Grantham ở Lincolnshire, Anh, vào ngày 25 tháng 12 năm 1642 (4 tháng 1, 1643 theo lịch mới). Ông chưa một lần nhìn thấy mặt cha, do cha ông, một nông dân cũng tên là Isaac Newton, mất trước khi ông sinh ra không lâu. Sống không hạnh phúc với bố dượng từ nhỏ, Newton bắt đầu những năm học phổ thông trầm uất, xa nhà và bị gián đoạn bởi các biến cố gia đình. May mắn là do không có khả năng điều hành tài chính trong vai anh cả sau khi bố dượng mất, ông tiếp tục được cho học đại học (trường Trinity College Cambridge) sau phổ thông vào năm 1661, sử dụng học bổng của trường với điều kiện phải phục dịch các học sinh đóng học phí.Mục tiêu ban đầu của Newton tại Đại học Cambridge là tấm bằng luật sư với chương trình nặng về triết học của Aristotle, nhưng ông nhanh chóng bị cuốn hút bởi toán học của Descartes, thiên văn học của Galileo và cả quang học của Kepler. Ông đã viết trong thời gian này: "Plato là bạn của tôi, Aristotle là bạn của tôi, nhưng sự thật mới là người bạn thân thiết nhất của tôi". Tuy nhiên, đa phần kiến thức toán học cao cấp nhất thời bấy giờ, Newton tiếp cận được là nhờ đọc thêm sách, đặc biệt là từ sau năm 1663, gồm các cuốn Elementscủa Euclid, Clavis Mathematica của William Oughtred, La Géométrie của Descartes, Geometria a Renato Des Cartes của Frans van Schooten, Algebra của Wallis và các công trình của François Viète.Ngay sau khi nhận bằng tốt nghiệp, năm 1630, ông phải trở về nhà 2 năm vì trường đóng cửa do bệnh dịch hạch lan truyền. Hai năm này chứng kiến một loạt các phát triển quan trọng của Newton với phương pháp tính vi phân và tích phân hoàn toàn mới, thống nhất và đơn giản hoá nhiều phương pháp tính khác nhau thời bấy giờ để giải quyết những bài toán có vẻ không liên quan trực tiếp đến nhau như tìm diện tích, tìm tiếp tuyến, độ dài đường cong và cực trị của hàm. Tài năng toán học của ông nhanh chóng được hiệu trưởng của Cambridge nhận ra khi trường mở cửa trở lại. Ông được nhận làm giảng viên của trường năm 1670, sau khi hoàn thành thạc sĩ, và bắt đầu nghiên cứu và giảng về quang học. Ông lần đầu chứng minh ánh sáng trắng thực ra được tạo thành bởi nhiều màu sắc, và đưa ra cải tiến cho kính thiên văn sử dụng gương thay thấu kính để hạn chế sự nhoè ảnh do tán sắc ánh sáng qua thuỷ tinh.Newton được bầu vào Hội Khoa học Hoàng gia Anh năm 1672 và bắt đầu vấp phải các phản bác từ Huygens và Hooke về lý thuyết hạt ánh sáng của ông. Lý thuyết về màu sắc ánh sáng của ông cũng bị một tác giả phản bác và cuộc tranh cãi đã dẫn đến suy sụp tinh thần cho Newton vào năm 1678. Năm 1679 Newton và Hooke tham gia vào một cuộc tranh luận mới về quỹ đạo của thiên thể trong trọng trường. Năm 1684, Halley thuyết phục được Newton xuất bản các tính toán sau cuộc tranh luận này trong quyển Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (Các Nguyên lý của Triết lý về Tự Nhiên). Quyển sách đã mang lại cho Newton tiếng tăm vượt ra ngoài nước Anh, đến châu Âu.Năm 1685, chính trị nước Anh thay đổi dưới sự trị vì của James II, và trường Cambridge phải tuân thủ những điều luật phi lý như buộc phải cấp bằng cho giáo chủ không thông qua thi cử. Newton kịch liệt phản đối những can thiệp này và sau khi James bị William III đánh bại, Newton được bầu vào Nghị viện Anh nhờ những đấu tranh chính trị của ông.Năm 1693, sau nhiều năm làm thí nghiệm hoá học thất bại và sức khoẻ suy sụp nghiêm trọng, Newton từ bỏ khoa học, rời Cambridge để về nhận chức trong chính quyền tại Luân Đôn. Newton tích cực tham gia hoạt động chính trị và trở nên giàu có nhờ bổng lộc nhà nước. Năm 1703 Newton được bầu làm chủ tịch Hội Khoa học Hoàng gia Anh và giữ chức vụ đó trong suốt phần còn lại của cuộc đời ông. Ông được Nữ hoàng phong bá tước năm 1705. việc ai phát minh ra vi phân và tích phân, Newton và Lepnic không bao giờ tranh luận cả, nhưng các người hâm mộ lại tranh cãi quyết liệt khiến hai nhà khoa học vĩ đại này cảm thấy xấu hổ. Ông mất ngày 31 tháng 3 năm 1727 tại Luân Đôn.

Từ năm 1670 đến 1672, Newton diễn thuyết về quang học. Trong khoảng thời gian này ông khám phá ra sự tán sắc ánh sáng, giải thích việc ánh sáng trắng qualăng kính trở thành nhiều màu, và một thấu kính hay một lăng kính sẽ hội tụ các dãy màu thành ánh sáng trắng.Newton còn cho thấy rằng ánh sáng màu không thay đổi tính chất, bằng việc phân tích các tia màu và chiếu vào các vật khác nhau. Newton chú ý rằng dù là gì đi nữa, phản xạ, tán xạ hay truyền qua, màu sắc vẫn giữ nguyên. Vì thế màu mà ta quan sát là kết quả vật tương tác với các ánh sáng đã có sẵn màu sắc, không phải là kết quả của vật tạo ra màu.

Câu nói nổi tiếng:

"Nếu bạn hỏi một người giỏi trượt băng làm sao để thành công, anh ta sẽ nói với bạn: ngã, đứng dậy là thành công".
 
Xin tài liệu Lý 11
Cho em xin một số tài liệu vật lý 11 mà có trong chương trình Ôn Đại Học. Thân!!!!
 
Xem các bình luận trước…
Đề thi ĐH khối A năm 2011 và hướng dẫn giải chi tiết của thầy Hồ Hoàng Việt
Nhiệt lượng tỏa ra môi trường khi dao động tắt hẳn là ?
Bài toán
Vật nặng trong con lắc lò xo có khối lượng m=100g , khi vật đang ở VTCB , người ta truyền cho nó vận tốc ban đầu 2 m/s .Do ma sát vật dao động tắt dần .Nhiệt lượng tỏa ra môi trường khi dao động tắt hẳn là:
A. 200 J
B. 0,2 J
C. 0,1 J
D. 0,02 J
 
Xác định khoảng cách của hai điểm gần nhau nhất trên $Ox$ nghe âm nhỏ nhất
Bài toán : Hai nguồn âm giống nhau được đặt tại hai điểm $A,B$ cách nhau một khoảng $AB=L=2 $ m. Phát cùng một âm đơn ,cùng tần số $1500$ Hz .$I$ là trung điểm của AB ,điểm $O$ trên đường trung trực của $AB$ sao cho $d=OI=50$ m. Từ O vẽ đường $Ox$ sóng song với $AB$. Xác định khoảng cách của hai điểm gần nhau nhất trên $Ox$ nghe âm nhỏ nhất. Coi bước sóng của sóng âm nhỏ hơn nhiều lần so với $L$ và $L$ nhỏ hơn nhiều lần so với $d$:
A. $5,67$ m
B. $2,83$ m
C. $11,33$ m
D. $7,83$ m
 
ruocchua1402 đã viết:
Bài toán : Hai nguồn âm giống nhau được đặt tại hai điểm $A,B$ cách nhau một khoảng $AB=L=2 $ m. Phát cùng một âm đơn ,cùng tần số $1500$ Hz .$I$ là trung điểm của AB ,điểm $O$ trên đường trung trực của $AB$ sao cho $d=OI=50$ m. Từ O vẽ đường $Ox$ sóng song với $AB$. Xác định khoảng cách của hai điểm gần nhau nhất trên $Ox$ nghe âm nhỏ nhất. Coi bước sóng của sóng âm nhỏ hơn nhiều lần so với $L$ và $L$ nhỏ hơn nhiều lần so với $d$:
A. $5,67$ m
B. $2,83$ m
C. $11,33$ m
D. $7,83$ m

Gọi M và N là 2 điểm thuộc vân cực tiểu và ta có phương trình tại M là:
$d_2-d_1=(k+\dfrac{1}{2})d$
Với k=-1 ứng với điểm M, với k=1 ứng với điểm N
Với dữ liệu đề bài cho ta được hình vẽ bên: có HI=OM
Theo tính chất Pitago ta có:
$d^2=d_1^2-AH^2=d_2^2-BH^2(1)$
$\Leftrightarrow d_2^2-d_1^2=BH^2-AH^2=(\dfrac{AB}{2}+MO)^2-(\dfrac{AB}{2}-MO)^2=2AB.MO $
$\Leftrightarrow (d_2+d_1)(d_2-d_1)=2AB.MO$
$\Leftrightarrow (d_2+d_1)(k+\dfrac{1}{2})\lambda =2AB.MO (2)$
Từ (1) và (2) $\Rightarrow 2d_1=\dfrac{2AB.MO}{(k+\dfrac{1}{2})\lambda }-(k+\dfrac{1}{2})\lambda (3)$
$\Rightarrow MO=\dfrac{2d_1(k+\dfrac{1}{2})\lambda +(k+\dfrac{1}{2})^2\lambda ^2}{2.AB}$
Vì $\lambda =\dfrac{v}{f}<<AB<<d \Rightarrow d_1=d \Rightarrow MO=\dfrac{2d(k+\dfrac{1}{2})\lambda }{2AB}=\dfrac{17}{6} \Rightarrow MN=2MO=5,67m$
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
Theo đường khác:
Giả sử $M,N$ là hai điểm thỏa mãn điều kiện bài toán ,ta có $\displaystyle MA-MB=\begin{pmatrix}
k+\dfrac{1}{2}
\end{pmatrix}\lambda $ và $\displaystyle \begin{cases}
MA^2=d^2+ \begin{pmatrix}
\dfrac{L}{2}+x
\end{pmatrix}^2\\
MA^2=d^2+ \begin{pmatrix}
\dfrac{L}{2}-x
\end{pmatrix}^2

\end{cases} \Rightarrow MA^2 -MB^2= \begin{pmatrix}
MA-MB
\end{pmatrix}\begin{pmatrix}
MA+MB
\end{pmatrix}=2Lx$
Mặt khác : $2Lx \approx \begin{pmatrix}
MA-MB
\end{pmatrix}.2d \Rightarrow \begin{pmatrix}
MA-MB
\end{pmatrix}=\dfrac{Lx}{d}= \begin{pmatrix}
k+\dfrac{1}{2}
\end{pmatrix}\lambda \Rightarrow \begin{cases}
x_k= \begin{pmatrix}
k+\dfrac{1}{2}
\end{pmatrix} \dfrac{d\lambda}{L}\\

x_{k+1}= \begin{pmatrix}
k+\dfrac{1}{2}+\dfrac{1}{2}
\end{pmatrix} \dfrac{d\lambda}{L}

\end{cases}$$\Rightarrow \boxed{\Delta x=x_{k+1}-x_k=i=\dfrac{d\lambda}{L}}=5,67$ m.
 
Tìm độ dày của bản mặt song song để hai chùm bức xạ tách rời nhau
Bài toán
Một bản hai mặt song song có độ dày là l làm bằng thủy tinh. Một chùm sáng song song là một chùm sáng trắng có bước sóng từ 380nm đến 750nm, có độ rộng a = 0,5 cm tới mặt bên của bản dưới góc tới 30 độ . Biết chiết suất của tia tím và tia đỏ lần lượt là 1,606 và 1,627. Để hai chùm bức xạ sau khi ra khỏi bản hoàn toàn tách rời nhau thì độ dày l có giá trị bằng bao nhiêu?
A. 113,6cm
B. 234,2cm
C. 96,8cm
D. 124,2cm
 
Thông báo về việc chiêu mộ thành viên!
4rum mình mới mở, hiện tại số lượng thành viên còn rất ít và tăng rất chậm. Điều này sẽ làm chậm quá trình phát triển của diễn đàn. Vậy mình mong các bạn hãy giới thiệu 4rum với mọi người một cách rộng rãi. Đồng thời những "khai quốc công thần" thì cần nhiệt tình hơn nữa, tạo sự sôi nổi để thu hút các bạn.
Thân.
 
Xem các bình luận trước…
Tại sao cá sống ở dưới nước vào mùa đông lại không bị lạnh?
Tại sao cá sống ở dưới nước vào mùa đông, nhiệt độ có thể rơi xuống O độ C nhưng cá lại không bị lạnh?
 
crazyfish2008 đã viết:
Tại sao cá sống ở dưới nước vào mùa đông, nhiệt độ có thể rơi xuống O độ C nhưng cá lại không bị lạnh?
Em nghỉ nhiệt độ 0 độ C chỉ ở bề mặt của nước chứ dưới lớp băng thì nhiệt độ vẫn ổn định
 
Tại sao cá sấu hay nuốt đá vào bụng?
[font=arial, verdana, helvetica, sans-serif][highlight=#fcfcfd]Cá sấu nuốt đá vào bụng là để làm giảm nhẹ công việc cho dạ dày. Chẳng những thế, nó còn giúp chúng giữ thăng bằng cho cơ thể. Cách đây 4 thập niên, các nhà động vật học Anh đã xác thực điều đó. Nếu không có đá trong dạ dày, khi bơi cá sấu rất khó giữ thăng bằng. Do đó, nó phải dùng những cái chân bơi của mình đập nước thật khoẻ mới mong khỏi bị lật ngửa bụng lên. [/font]
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
Tại sao rượu lại khử được mùi tanh của cá?
Xem các bình luận trước…
crazyfish2008 đã viết:
Tại sao rượu lại khử được mùi tanh của cá?
CÁI NÀY LÀ HÓA HỌC MÀ SAO LẠI POST Ở ĐÂY NHỈ


Cá tanh do trong cá có trimetylamin (CH3)3N và đimetylamin (CH3)2NH và metyl amin CH3NH2 là những chất có mùi khai khó chịu. Khi chiên cá ta cho thêm một ít rượu có thể phá hủy được mùi tanh cá. Vì trimetylamin thường “lẫn trốn” trong cá nên người ta khó trục nó ra. Nhưng trong rượu có cồn, cồn có thể hòa tan trimetylamin nên có thể lôi được trimetylamin ra khỏi chổ ẩn. Khi chiên cá ở nhiệt độ cao cả trimetylamin và cồn đều bay hơi hết, nên chỉ một lúc sau mùi tanh cá sẽ bay đi hết.

=========
Cơ mà gặp phải "cá điên' thì cứ đập chết rồi để mèo xơi, cần gì khử mùi
 
Tại sao khi có gió lớn, ta đóng cửa sổ nếu không chốt thì cửa vẫn bị mở ra?
Khi có gió lớn, ta đóng cửa sổ nếu không chốt thì cửa vẫn bị mở ra , tại sao ?
 
Xem các bình luận trước…
crazyfish2008 đã viết:
lvcat đã viết:
Khi có gió lớn, ta đóng cửa sổ nếu không chốt thì cửa vẫn bị mở ra , tại sao ?

Khi gió lớn áp suất động tăng, theo định luật Béc-nu-li thì áp suất tĩnh giảm $\Rightarrow$ có sự chênh lệch về áp suất giữa trong và ngoài phòng $\Rightarrow$ tạo nên 1 áp lực đẩy cửa sổ mở ra [trong trường hợp cửa mở bằng cách đẩy ra ngoài và gió không thổi ngược vào cửa sổ]
Chuẩn rồi, cái này kiến thức lớp 10, không thi ĐH mà anh vẫn nhớ :grin:
Công nhận cái này đúng nhất
[trong trường hợp cửa mở bằng cách đẩy ra ngoài và gió không thổi ngược vào cửa sổ]
 
Tại sao khi sút làm bóng xoáy thì bóng sẽ bay theo quỹ đạo cong?
Tại sao khi sút làm bóng xoáy thì bóng sẽ bay theo quỹ đạo cong?
 
lvcat đã viết:
Tại sao khi sút làm bóng xoáy thì bóng sẽ bay theo quỹ đạo cong?
Gần 100 năm về trước, nhà vật lý nổi tiếng Joseph John Thomson (người phát minh ra electron, giải thưởng Nobel năm 1906) đã trình bày một bài giảng ở Viện Hoàng gia London về động lực học của những quả bóng gôn. Lời của ông được trích lại như sau:
“Nếu chúng ta có thể chấp nhận được những sự giải thích về chuyển động của quả bóng gôn bằng cả đống tài liệu về trò chơi này... thì trong buổi chiều ngày hôm nay, tôi cần mang đến cho các bạn một môn động lực học mới, và tôi cũng thông báo rằng, những vật chất, khi được chế tạo thành những quả bóng [gôn], chúng sẽ tuân theo những định luật có đặc trưng hoàn toàn khác…”
Khí động lực học của trái bóng
Sự lệch quỹ đạo của một vật thể quay tròn lần đầu tiên được giải thích bởi Lord Rayleigh dựa trên công trình thực hiện năm 1852 của nhà vật lý Đức Gustav Magnus. Thực ra hồi ấy Magnus muốn nghiên cứu xem tại sao những quả đạn lại bị lệch sang một bên khi vừa quay tròn vừa chuyển động, song sự lý giải của ông cũng được áp dụng rất tốt cho trường hợp quả bóng đá.
Ta hãy xét một trái bóng đang quay quanh một trục vuông góc với dòng không khí chuyển động trên bề mặt của nó. Tại một phía mặt bên của bóng, chiều quay của nó cùng chiều với chuyển động của dòng không khí và như vậy dòng khí ở mặt bên này sẽ đi nhanh hơn so với dòng khí ở phần giữa gần trục quay của bóng. Theo nguyên lý Bernouilli, áp suất tại một mặt bên của bóng, nơi có dòng khí chuyển động nhanh hơn sẽ nhỏ hơn áp suất ở phần giữa. Tại mặt bên kia của bóng thì điều này xảy ra ngược lại, vì tại đó chiều quay của bóng sẽ ngược với chiều chuyển động của dòng khí, làm giảm tốc độ dòng khí và từ đó làm tăng áp suất. Như vậy, có một sự không cân bằng về lực và quả bóng sẽ đi lệch sang một bên. Những hiện tượng như thế này thường được gọi là “hiệu ứng Magnus”.
Những lực làm lệch đường đi của quả bóng quay tròn nói chung được chia thành hai loại: một lực nâng và một lực cản. Lực nâng hướng lên trên hoặc hướng sang ngang, đại diện cho hiệu ứng Magnus. Lực cản tác động theo hướng ngược với đường đi của quả bóng. Chúng ta có thể tính được các lực này trong một tình huống đá phạt. Giả sử rằng vận tốc của quả bóng là 25-30 m/s và tốc độ quay là khoảng 8-10 vòng mỗi giây, khi đó lực nâng vào khoảng 3,5N. Nếu lấy khối lượng chuẩn của một quả bóng dành cho thi đấu là 410-450g, khi đó nó sẽ có gia tốc là khoản$g 8 \ \left(\text{m}/\text{s}^2\right)$. Và bởi vì trong một giây, quả bóng có thể đi về phía trước được cỡ 30m nên lực nâng sẽ khiến nó bị lệch khoảng 4m so với quỹ đạo thẳng, quá đủ để gây khó khăn cho bất cứ thủ môn nào.
Lực cản $F_D$ (ở đây có thể hiểu là lực cản của không khí) tỷ lệ với bình phương vận tốc v, giả sử rằng mật độ r và tiết diện ngang A của quả bóng không thay đổi : $F_D = \dfrac{CDrAv^22}{2}$. Tuy nhiên, có vẻ như là “hệ số cản” CD cũng phụ thuộc vào vận tốc của bóng. Chẳng hạn, nếu ta vẽ đồ thị hệ số cản theo số Reynold – một tham số không thứ nguyên có giá trị là $F_D = \dfrac{ rvD }{ μ }$/ , trong đó D là đường kính của quả bóng và μ là độ nhớt động học của không khí – ta sẽ thấy rằng hệ số cản giảm đột ngột khi dòng khí ở bề mặt của quả bóng bắt đầu trở nên rối loạn.
Khi các dòng khí phân lớp một cách có trật tự, hệ số cản sẽ lớn, lớp không khí trên bề mặt bóng sẽ bị phân tách khi nó vừa đi qua quả bóng, và từ đó những xoáy khí sớm được hình thành ở ngay sau đuôi quả bóng. Tuy nhiên, khi dòng khí trở nên rối loạn, lớp khí trên bề mặt bám vào quả bóng lâu hơn, nó bị phân tách chậm hơn, và do đó hệ số cản sẽ nhỏ. Giá trị số Reynold mà tại đó hệ số cản giảm sẽ phụ thuộc vào độ nhám trên bề mặt quả bóng. Chẳng hạn, với những quả bóng gôn có độ nhám bề mặt cao, hệ số cản sẽ giảm tại một giá trị số Reynold tương đối thấp (cỡ 2.104). Tuy nhiên, trong trường hợp quả bóng đá, nó nhẵn hơn bóng gôn nên giá trị số Reynold này lớn hơn nhiều (cỡ 4.105). Kết quả là một quả bóng chuyển động chậm sẽ phải chịu một lực trễ tương đối lớn. Nhưng nếu bạn có thể sút bóng đủ nhanh sao cho dòng khí đi qua nó bị rối, quả bóng sẽ chịu một lực trễ nhỏ (Hình 4)
Do vậy, một quả bóng chuyển động nhanh sẽ gây khó khăn gấp bội cho thủ môn không chỉ vì tốc độ cao của nó mà còn vì nó không bị chậm lại nhiều như người ta tưởng.
Có lẽ những thủ môn hàng đầu hiểu về vật lý theo trực giác nhiều hơn là theo suy luận.
Năm 1976, Peter Bearman và các cộng sự ở trường Imperial College, London đã thực hiện một loạt các thí nghiệm đối với quả bóng gôn. Họ thấy rằng việc tăng tốc độ quay của quả bóng sẽ tạo ra một hệ số nâng lớn hơn và từ đó là một lực Magnus lớn hơn. Tuy nhiên, việc tăng vận tốc tịnh tiến ở một tốc độ quay cho trước lại làm giảm hệ số nâng. Điều này có nghĩa là một quả bóng chuyển động chậm nhưng quay nhanh sẽ chịu một một lực làm lệch lớn hơn so với quả bóng chuyển động nhanh có cùng tốc độ quay. Roberto Carlos
Chắc hẳn nhiều người hâm mộ bóng đá vẫn còn nhớ cú sút phạt tuyệt vời của Roberto Carlos trong trận Pháp-Brazil. Quả bóng được đặt cách khung thành khoảng 30m, hơi chếch về phía phải. Carlos sút, quả bóng vòng qua hàng rào của Pháp một cách rất lịch sự rồi có vẻ như sẽ đi chệch sang phía phải cầu môn trước sự hí hửng của thủ thành Fabien Barthez. Nhưng như có phép lạ, quả bóng vẽ thành một đường cong lượn sang trái và đi vào lưới qua góc phải trên khung thành trước sự sững sờ tất cả những ai đang theo dõi trận đấu. Thậm chí, một số bình luận viên hồi ấy, những người vốn không hiểu lắm về khoa học đã quá nhời mà bình luận rằng: “Cú sút của Roberto Carlos đã thách thức tất cả những định luật vật lý”. Nếu coi sự lạm ngôn của những bình luận viên chính là lời thách thức đối với các nhà vật lý thì như chúng ta đã biết, Magnus đã giải quyết được vấn đề này từ cách đây một thế kỷ rưỡi rồi.
Carlos đã sút bằng chân trái đồng thời làm quả bóng quay ngược chiều kim đồng hồ theo phương nhìn từ trên xuống dưới, có lẽ tốc độ quay là 10 vòng mỗi giây và vận tốc tịnh tiến là khoảng 30 m/s. Dòng khí đi qua bề mặt bóng bị rối, sức cản trở nên nhỏ đi. Khi quả bóng bay được khoảng 10m, vận tốc giảm xuống, lực Magnus bẻ cong đường đi của nó và hướng nó về phía khung thành. Giả sử rằng, sự quay không bị yếu đi quá nhiều, khi đó hệ số cản tăng. Điều này thậm chí đã dẫn đến một lực làm lệch lớn hơn và bẻ cong đường bóng nhiều hơn. Cuối cùng, bóng bay chậm lại, nó chui vào lưới với một sự bẻ lái vô cùng kỳ thú. Những nghiên cứu tiếp theo về bóng đá
Có nhiều nghiên cứu về bóng đá hơn là sự khảo sát đơn giản về chuyển động của quả bóng. Các nhà nghiên cứu cũng rất hứng thú với việc tìm hiểu xem trên thực tế một cầu thủ sút một quả bóng như thế nào. Chẳng hạn, Stanley Plagenhof của Đại học Massachusetts đã nghiên cứu về động học của những cú sút – nói cách khác đó là sự xem xét chuyển động mà không chú ý đến các lực liên quan. Những nhà nghiên cứu khác, chẳng hạn như Elizabeth Roberts và các cộng sự ở Đại học Wisconsin đã thực hiện nghiên cứu về động lực học của những cú sút, nghĩa là xét đến cả các lực liên quan.
Những tiếp cận thực nghiệm này đã mang lại những kết quả rất hay, mặc dù vẫn còn nhiều thách thức. Một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất là sự khó khăn trong việc đo chuyển động vật lý của các cầu thủ, một phần là bởi vì chuyển động của họ không thể dự đoán trước được. Tuy nhiên, những tiến bộ gần đây trong việc phân tích chuyển động bằng máy tính đã thu hút được nhều sự chú ý đến lĩnh vực khoa học thể thao, và với sự áp dụng những phương pháp khoa học mới, bây giờ người ta đã có thể thực hiện những phép đo chính xác đối với chuyển động của con người.
Chẳng hạn, một nhóm nghiên cứu ở Đại học Yamagata, Nhật Bản đã kết hợp phương pháp máy tính với phương pháp động lực học truyền thống để mô phỏng cách mà các cầu thủ sút bóng. Những mô phỏng này đã cho phép tạo nên những cầu thủ bóng đá “ảo” với nhiều loại khác nhau. Những nhà sản xuất dụng cụ thể thao, chẳng hạn như ASICS cũng rất hứng thú với nghiên cứu này và họ đang tài trợ cho đề tài của Yamagata. Họ hy vọng là sẽ sử dụng các kết quả để thiết kế những dụng cụ thể thao tiện ích hơn, an toàn hơn và kinh tế hơn. Chuyển động của các cầu thủ được theo dõi bằng video tốc độ cao tới 4500 hình mỗi giây, và sự va chạm giữa chân và bóng được nghiên cứu bằng sự phân tích phần tử hữu hạn. Những thí nghiệm ban đầu đã chứng minh điều mà hầu hết các cầu thủ đều biết: nếu bạn dùng mu bàn chân sút vào tâm trọng lực của bóng, khi đó quả bóng sẽ bay đi theo đường thẳng. Tuy nhiên, nếu bạn sút bằng phần trước của bàn chân với một góc giữa ống chân và bàn chân là 90o, bóng sẽ đi theo đường cong. Trong trường hợp này sự va chạm là lệch tâm, nó sinh ra một lực tác động như một momen xoắn làm quay quả bóng.
Các thí nghiệm cũng chỉ ra rằng sự quay mà quả bóng có được là liên quan mật thiết với hệ số ma sát giữa bóng và bàn chân cũng như khoảng cách giữa bàn chân và tâm trọng lực của bóng. Mô hình phần tử hữu hạn cho sự va chạm giữa bàn chân và quả bóng được viết bằng phần mềm DYTRAN và PATRAN của tập đoàn MacNeal Schwendler đã được sử dụng để phân tích theo phương pháp số những hiện tượng này. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tăng hệ số ma sát giữa bóng và bàn chân khiến quả bóng quay nhiều hơn. Nó cũng sẽ quay nhiều hơn nếu vị trí bàn chân ở càng xa tâm trọng lực. Hai hiệu ứng thú vị khác cũng được quan sát. Thứ nhất, nếu khoảng cách bàn chân-tâm trọng lực tăng thì chân sẽ chạm bóng trong thời gian ngắn hơn và trên một vùng nhỏ hơn, điều này làm giảm cả vận tốc lẫn sự quay của bóng. Như vậy có một vị trí lý tưởng để sút bóng nếu bạn muốn nó quay mạnh nhất, nếu bạn sút vào vị trí quá gần hoặc quá xa tâm trọng lực, quả bóng sẽ chẳng quay gì hết. Hiệu ứng thú vị thứ hai là, ngay cả khi hệ số ma sát bằng không, quả bóng vẫn sẽ quay ở mức độ nào đó nếu bạn sút chệch khỏi tâm trọng lực. Quả bóng chịu một sự biến dạng hướng vào tâm, điều này gây nên một lực tác dụng gần tâm trọng lực. Như vậy, các cầu thủ vẫn có thể làm quả bóng quay trong những ngày trời mưa, mặc dù nó quay kém hơn so với những điều kiện khô ráo.
Dĩ nhiên, những sự phân tích này cũng có một vài hạn chế. Không khí bên ngoài quả bóng bị bỏ qua, và giả sử rằng không khí bên trong quả bóng diễn biến tùy thuộc vào độ nén, đó là mô hình dòng chảy nhớt. Đúng ra, một cách lý tưởng, cả không khí bên trong và bên ngoài quả bóng đều cần được xét đến, và những độ nhớt được mô hình hóa bằng việc sử dụng các phương trình Navier-Stokes. Cũng phải giả thiết rằng bàn chân là đồng nhất, khi đó rõ ràng là một bàn chân trên thực tế sẽ phức tạp hơn nhiều. Mặc dù không thể tạo ra một mô hình hoàn hảo có xét đến mọi yếu tố, nhưng mô hình này cũng đã bao gồm những yếu tố quan trọng nhất. Thay cho tiếng còi chung cuộcNào! Bây giờ, chúng ta có thể học được gì từ Roberto Carlos? Nếu bạn đá quả bóng đủ mạnh để dòng khí chạy qua bề mặt của nó trở nên bị rối, khi đó lực cản sẽ nhỏ và quả bóng sẽ “bay thực sự”. Nếu bạn muốn một đường bóng cong, hãy làm nó quay thật mạnh bằng việc sút vào vị trí lệch tâm của nó. Tuy làm việc này vào ngày khô ráo sẽ dễ dàng hơn ngày ẩm ướt, nhưng về nguyên tắc vẫn có thể làm được, bất chấp mọi điều kiện. Đường bóng sẽ cong đi khi quả bóng chậm lại và hình thành các lớp không khí có trật tự, vì vậy bạn cần phải luyện tập, thử nghiệm để đảm bảo rằng sự biến chuyển này xảy ra đúng nơi, đúng lúc – chẳng hạn như ngay sau khi quả bóng vượt qua hàng rào bảo vệ.​
 
Tức thờiTính công suất của đoạn mạch có hộp X
Bài toán
Một mạch điện xoay chiều gồm $AM$ nồi tiếp $MB$. Biết $AM$ gồm điện trở thuần $R_1$ ; tụ điện $C_1$, cuộn dây thuần cảm $L_1$ mắc nối tiếp. Đoạn $MB$ có hộp $X$, biết trong hộp X cũng có các phần tử là điện trở thuần, cuộn cảm, tụ điện mắc nối tiếp nhau. Đặt điện áp xoay chiều vào hai đầu mạch $AB$ có tần số $50Hz$ và giá trị hiệu dụng là $200$ V thì thấy dòng điện trong mạch có giá trị hiệu dụng $ 2$ A. Biết $R_{1}= 20 \Omega$ và nếu ở thời điểm t (s), $U_{AB}=200 \sqrt{2}$ V thì ở thời điểm $ t+\dfrac{1}{600}$s dòng điện $ i_{AB}= 0 $ (A ) và đang giảm. Công suất của đoạn mạch $MB$ là:
A. $266,4$W
B. $320$ W
C. $120$ W
D. $400$ W.
 
ruocchua1402 đã viết:
$\boxed{Bài tập}$ :Một mạch điện xoay chiều gồm $AM$ nồi tiếp $MB$. Biết $AM$ gồm điện trở thuần $R_1$ ; tụ điện $C_1$, cuộn dây thuần cảm $L_1$ mắc nối tiếp. Đoạn $MB$ có hộp $X$, biết trong hộp X cũng có các phần tử là điện trở thuần, cuộn cảm, tụ điện mắc nối tiếp nhau. Đặt điện áp xoay chiều vào hai đầu mạch $AB$ có tần số $50Hz$ và giá trị hiệu dụng là $200$ V thì thấy dòng điện trong mạch có giá trị hiệu dụng $ 2$ A.Biết $\boxed{R_1= 20}\Omega$ và nếu ở thời điểm t (s), $\displaystyle\boxed{ U_{AB}=200\sqrt{2}}$ V thì ở thời điểm $\displaystyle \boxed{t+\dfrac{1}{600}}$s dòng điện $\boxed{i_{AB}= 0} $ (A ) và đang giảm. Công suất của đoạn mạch $MB$ là:
$A.266,4$W

$B.120$ W
$C.320$ W
$D.400$ W
Coi $u=200\sqrt{2}\cos(100\pi.t)$ , $i=2\sqrt{2}\cos(100\pi.t+\varphi)$

Tại thời điểm $t=0$ s thì $U_{AB}=200\sqrt{2} => t=\dfrac{1}{600}$ thì $i=0 => \dfrac{\pi}{6} +\varphi =\dfrac{\pi}{2}$
$=> \varphi=\dfrac{\pi}{6}.$
$=> \dfrac{Z_L-Z_C}{R_1+R_2} =\sqrt{3}$
Mặt khác
$(R_1+R_2)^2+(Z_L-Z_C)^2 =100^2$
Thay $R_1=20 \Omega$ và $Z_L-Z_C =\sqrt{3}(R_1+R_2)$ vào tính được $R_2 =30 \Omega$
$=> P_{MB} =120 W$
$\boxed{Chọn B}$
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
C biến thiênTính $C$ để $\boxed{U_{AM}+U_{MB}}$ lớn nhất
Bài toán
Mạch điện AB gồm đoạn mạch AM và MB .Điện áp ở hai đầu đoạn mạch ổn định $u=U_0 \cos (\omega t)$ (V). Điện áp ở hai đầu đọan mạch AM sớm pha hơn cường độ dòng điện một góc $30^0$ .Đoạn mạch MB chỉ chứa một tụ điện có giá trị điện dung thay đổi được. Chỉnh giá trị của C để tổng $ U_{AM}+U_{MB}$ đạt giá trị lớn nhất.Khi đó điện áp hai đầu tụ điện C là:
A. $U$
B. $U_{0}$
C. $U.\sqrt{2}$
D. $U.\sqrt{3}$
 
Xem các bình luận trước…
$\boxed{Câu 3}$ :Một mạch điện xoay chiều gồm $AM$ nồi tiếp $MB$. Biết $AM$ gồm điện trở thuần $R_1$ ; tụ điện $C_1$, cuộn dây thuần cảm $L_1$ mắc nối tiếp. Đoạn $MB$ có hộp $X$, biết trong hộp X cũng có các phần tử là điện trở thuần, cuộn cảm, tụ điện mắc nối tiếp nhau. Đặt điện áp xoay chiều vào hai đầu mạch $AB$ có tần số $50Hz$ và giá trị hiệu dụng là $200$ V thì thấy dòng điện trong mạch có giá trị hiệu dụng $ 2$ A.Biết $\boxed{R_1= 20}\Omega$ và nếu ở thời điểm t (s), $\displaystyle\boxed{ U_{AB}=200\sqrt{2}}$ V thì ở thời điểm $\displaystyle \boxed{t+\dfrac{1}{600}}$s dòng điện $\boxed{i_{AB}= 0} $ (A ) và đang giảm. Công suất của đoạn mạch $MB$ là:
$A.266,4$W
$B.120$ W
$C.320$ W
$D.400$ W
 
ruocchua1402 đã viết:
$\boxed{Câu 3}$ :Một mạch điện xoay chiều gồm $AM$ nồi tiếp $MB$. Biết $AM$ gồm điện trở thuần $R_1$ ; tụ điện $C_1$, cuộn dây thuần cảm $L_1$ mắc nối tiếp. Đoạn $MB$ có hộp $X$, biết trong hộp X cũng có các phần tử là điện trở thuần, cuộn cảm, tụ điện mắc nối tiếp nhau. Đặt điện áp xoay chiều vào hai đầu mạch $AB$ có tần số $50Hz$ và giá trị hiệu dụng là $200$ V thì thấy dòng điện trong mạch có giá trị hiệu dụng $ 2$ A.Biết $\boxed{R_1= 20}\Omega$ và nếu ở thời điểm t (s), $\displaystyle\boxed{ U_{AB}=200\sqrt{2}}$ V thì ở thời điểm $\displaystyle \boxed{t+\dfrac{1}{600}}$s dòng điện $\boxed{i_{AB}= 0} $ (A ) và đang giảm. Công suất của đoạn mạch $MB$ là:
$A.266,4$W
$B.120$ W
$C.320$ W
$D.400$ W
Bạn copy bài này ra ngoài nhé, topic sẽ đóng khi bạn đưa bài ra ngoài. Mỗi bài nên thảo luận ở 1 topic sẽ dễ xem hơn.
Thân.
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
L biến thiênCho mạch điện RLC có L thay đổi được
Bài toán
Cho mạch điện RLC có L thay đổi được. Đặt vào hai đầu một điện áp xoay chiều $u = U_0 \cos(100 \pi t + \varphi )V$. Điều chỉnh giá trị của độ tự cảm L ta thấy khi $L = L_1 = \dfrac{3}{\pi} (H)$ và $L = L_2 =\dfrac{1}{\pi} (H)$ thì dòng điện tức thời i , i tương ứng đều lệch pha một một góc $\dfrac{\pi}{4}$ so với điện áp hai đầu mạch điện. Tính giá trị của C.
A. $C = \dfrac{50}{\pi} \mu (F)$.
B. $C = \dfrac{100}{\pi} \mu (F)$.
C. $C = \dfrac{150}{\pi} \mu (F)$.
D. $C = \dfrac{200}{\pi} \mu (F)$.
 
Xem các bình luận trước…
Re: Chuyên đề Dòng Điện Xoay Chiều.

lvcat đã viết:
$T_K$ đã viết:
Q

Câu 1. Cho mạch điện RLC có L thay đổi được. Đặt vào hai đầu một điện áp xoay chiều $u = U_0 \cos \left(100 \pi t + \varphi \right)V$. Điều chỉnh giá trị của độ tự cảm L ta thấy khi $L = L_1 = \dfrac{3}{\pi } \left(H\right)$ và $L = L_2 =\dfrac{1}{\pi } \left(H\right)$ thì dòng điện tức thời i , i tương ứng đều lệch pha một một góc $\dfrac{\pi }{4}$ so với điện áp hai đầu mạch điện. Tính giá trị của C.
A. $C = \dfrac{50}{\pi } \mu \left(F\right)$.
B. $C = \dfrac{100}{\pi } \mu \left(F\right)$.
C. $C = \dfrac{150}{\pi } \mu \left(F\right)$.
D. $C = \dfrac{200}{\pi } \mu \left(F\right)$.
Do độ lệch pha của i và u ở 2 trường hợp như nhau và $Z_{1L} > Z_{2L}$ nên ta có
$Z_{1L} -Z_C=Z_C - Z_{2L}$
$\Leftrightarrow Z_{1L}+Z_{2L}=2Z_C$
$\Leftrightarrow Z_C= 200 \Omega $
$\Rightarrow$ . $C = \dfrac{100}{\pi } \mu \left(F\right)$. Chọn đáp án B
Hình như câu này chọn A chứ!
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
Re: Chuyên đề Dòng Điện Xoay Chiều.

LoveBaBaPig đã viết:
lvcat đã viết:
$T_K$ đã viết:
Q

Câu 1. Cho mạch điện RLC có L thay đổi được. Đặt vào hai đầu một điện áp xoay chiều $u = U_0 \cos \left(100 \pi t + \varphi \right)V$. Điều chỉnh giá trị của độ tự cảm L ta thấy khi $L = L_1 = \dfrac{3}{\pi } \left(H\right)$ và $L = L_2 =\dfrac{1}{\pi } \left(H\right)$ thì dòng điện tức thời i , i tương ứng đều lệch pha một một góc $\dfrac{\pi }{4}$ so với điện áp hai đầu mạch điện. Tính giá trị của C.
A. $C = \dfrac{50}{\pi } \mu \left(F\right)$.
B. $C = \dfrac{100}{\pi } \mu \left(F\right)$.
C. $C = \dfrac{150}{\pi } \mu \left(F\right)$.
D. $C = \dfrac{200}{\pi } \mu \left(F\right)$.
Do độ lệch pha của i và u ở 2 trường hợp như nhau và $Z_{1L} > Z_{2L}$ nên ta có
$Z_{1L} -Z_C=Z_C - Z_{2L}$
$\Leftrightarrow Z_{1L}+Z_{2L}=2Z_C$
$\Leftrightarrow Z_C= 200 \Omega $
$\Rightarrow$ . $C = \dfrac{100}{\pi } \mu \left(F\right)$. Chọn đáp án B
Hình như câu này chọn A chứ!
Uhm, mình nhầm :D
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:

Thống kê diễn đàn

Chủ đề
11,825
Bài viết
51,559
Thành viên
32,628
Thành viên mới nhất
Đức0611

Members online

No members online now.
Top