Diễn đàn Vật lí phổ thông

Diễn đàn Vật lí phổ thông, giải đáp thắc mắc, luyện thi Đại học Vật lí.

Chọn diễn đàn thảo luận

  1. Vật lí 12
  2. Vật lí 11
  3. Vật lí 10
Tại sao khi sút làm bóng xoáy thì bóng sẽ bay theo quỹ đạo cong?
Tại sao khi sút làm bóng xoáy thì bóng sẽ bay theo quỹ đạo cong?
 
lvcat đã viết:
Tại sao khi sút làm bóng xoáy thì bóng sẽ bay theo quỹ đạo cong?
Gần 100 năm về trước, nhà vật lý nổi tiếng Joseph John Thomson (người phát minh ra electron, giải thưởng Nobel năm 1906) đã trình bày một bài giảng ở Viện Hoàng gia London về động lực học của những quả bóng gôn. Lời của ông được trích lại như sau:
“Nếu chúng ta có thể chấp nhận được những sự giải thích về chuyển động của quả bóng gôn bằng cả đống tài liệu về trò chơi này... thì trong buổi chiều ngày hôm nay, tôi cần mang đến cho các bạn một môn động lực học mới, và tôi cũng thông báo rằng, những vật chất, khi được chế tạo thành những quả bóng [gôn], chúng sẽ tuân theo những định luật có đặc trưng hoàn toàn khác…”
Khí động lực học của trái bóng
Sự lệch quỹ đạo của một vật thể quay tròn lần đầu tiên được giải thích bởi Lord Rayleigh dựa trên công trình thực hiện năm 1852 của nhà vật lý Đức Gustav Magnus. Thực ra hồi ấy Magnus muốn nghiên cứu xem tại sao những quả đạn lại bị lệch sang một bên khi vừa quay tròn vừa chuyển động, song sự lý giải của ông cũng được áp dụng rất tốt cho trường hợp quả bóng đá.
Ta hãy xét một trái bóng đang quay quanh một trục vuông góc với dòng không khí chuyển động trên bề mặt của nó. Tại một phía mặt bên của bóng, chiều quay của nó cùng chiều với chuyển động của dòng không khí và như vậy dòng khí ở mặt bên này sẽ đi nhanh hơn so với dòng khí ở phần giữa gần trục quay của bóng. Theo nguyên lý Bernouilli, áp suất tại một mặt bên của bóng, nơi có dòng khí chuyển động nhanh hơn sẽ nhỏ hơn áp suất ở phần giữa. Tại mặt bên kia của bóng thì điều này xảy ra ngược lại, vì tại đó chiều quay của bóng sẽ ngược với chiều chuyển động của dòng khí, làm giảm tốc độ dòng khí và từ đó làm tăng áp suất. Như vậy, có một sự không cân bằng về lực và quả bóng sẽ đi lệch sang một bên. Những hiện tượng như thế này thường được gọi là “hiệu ứng Magnus”.
Những lực làm lệch đường đi của quả bóng quay tròn nói chung được chia thành hai loại: một lực nâng và một lực cản. Lực nâng hướng lên trên hoặc hướng sang ngang, đại diện cho hiệu ứng Magnus. Lực cản tác động theo hướng ngược với đường đi của quả bóng. Chúng ta có thể tính được các lực này trong một tình huống đá phạt. Giả sử rằng vận tốc của quả bóng là 25-30 m/s và tốc độ quay là khoảng 8-10 vòng mỗi giây, khi đó lực nâng vào khoảng 3,5N. Nếu lấy khối lượng chuẩn của một quả bóng dành cho thi đấu là 410-450g, khi đó nó sẽ có gia tốc là khoản$g 8 \ \left(\text{m}/\text{s}^2\right)$. Và bởi vì trong một giây, quả bóng có thể đi về phía trước được cỡ 30m nên lực nâng sẽ khiến nó bị lệch khoảng 4m so với quỹ đạo thẳng, quá đủ để gây khó khăn cho bất cứ thủ môn nào.
Lực cản $F_D$ (ở đây có thể hiểu là lực cản của không khí) tỷ lệ với bình phương vận tốc v, giả sử rằng mật độ r và tiết diện ngang A của quả bóng không thay đổi : $F_D = \dfrac{CDrAv^22}{2}$. Tuy nhiên, có vẻ như là “hệ số cản” CD cũng phụ thuộc vào vận tốc của bóng. Chẳng hạn, nếu ta vẽ đồ thị hệ số cản theo số Reynold – một tham số không thứ nguyên có giá trị là $F_D = \dfrac{ rvD }{ μ }$/ , trong đó D là đường kính của quả bóng và μ là độ nhớt động học của không khí – ta sẽ thấy rằng hệ số cản giảm đột ngột khi dòng khí ở bề mặt của quả bóng bắt đầu trở nên rối loạn.
Khi các dòng khí phân lớp một cách có trật tự, hệ số cản sẽ lớn, lớp không khí trên bề mặt bóng sẽ bị phân tách khi nó vừa đi qua quả bóng, và từ đó những xoáy khí sớm được hình thành ở ngay sau đuôi quả bóng. Tuy nhiên, khi dòng khí trở nên rối loạn, lớp khí trên bề mặt bám vào quả bóng lâu hơn, nó bị phân tách chậm hơn, và do đó hệ số cản sẽ nhỏ. Giá trị số Reynold mà tại đó hệ số cản giảm sẽ phụ thuộc vào độ nhám trên bề mặt quả bóng. Chẳng hạn, với những quả bóng gôn có độ nhám bề mặt cao, hệ số cản sẽ giảm tại một giá trị số Reynold tương đối thấp (cỡ 2.104). Tuy nhiên, trong trường hợp quả bóng đá, nó nhẵn hơn bóng gôn nên giá trị số Reynold này lớn hơn nhiều (cỡ 4.105). Kết quả là một quả bóng chuyển động chậm sẽ phải chịu một lực trễ tương đối lớn. Nhưng nếu bạn có thể sút bóng đủ nhanh sao cho dòng khí đi qua nó bị rối, quả bóng sẽ chịu một lực trễ nhỏ (Hình 4)
Do vậy, một quả bóng chuyển động nhanh sẽ gây khó khăn gấp bội cho thủ môn không chỉ vì tốc độ cao của nó mà còn vì nó không bị chậm lại nhiều như người ta tưởng.
Có lẽ những thủ môn hàng đầu hiểu về vật lý theo trực giác nhiều hơn là theo suy luận.
Năm 1976, Peter Bearman và các cộng sự ở trường Imperial College, London đã thực hiện một loạt các thí nghiệm đối với quả bóng gôn. Họ thấy rằng việc tăng tốc độ quay của quả bóng sẽ tạo ra một hệ số nâng lớn hơn và từ đó là một lực Magnus lớn hơn. Tuy nhiên, việc tăng vận tốc tịnh tiến ở một tốc độ quay cho trước lại làm giảm hệ số nâng. Điều này có nghĩa là một quả bóng chuyển động chậm nhưng quay nhanh sẽ chịu một một lực làm lệch lớn hơn so với quả bóng chuyển động nhanh có cùng tốc độ quay. Roberto Carlos
Chắc hẳn nhiều người hâm mộ bóng đá vẫn còn nhớ cú sút phạt tuyệt vời của Roberto Carlos trong trận Pháp-Brazil. Quả bóng được đặt cách khung thành khoảng 30m, hơi chếch về phía phải. Carlos sút, quả bóng vòng qua hàng rào của Pháp một cách rất lịch sự rồi có vẻ như sẽ đi chệch sang phía phải cầu môn trước sự hí hửng của thủ thành Fabien Barthez. Nhưng như có phép lạ, quả bóng vẽ thành một đường cong lượn sang trái và đi vào lưới qua góc phải trên khung thành trước sự sững sờ tất cả những ai đang theo dõi trận đấu. Thậm chí, một số bình luận viên hồi ấy, những người vốn không hiểu lắm về khoa học đã quá nhời mà bình luận rằng: “Cú sút của Roberto Carlos đã thách thức tất cả những định luật vật lý”. Nếu coi sự lạm ngôn của những bình luận viên chính là lời thách thức đối với các nhà vật lý thì như chúng ta đã biết, Magnus đã giải quyết được vấn đề này từ cách đây một thế kỷ rưỡi rồi.
Carlos đã sút bằng chân trái đồng thời làm quả bóng quay ngược chiều kim đồng hồ theo phương nhìn từ trên xuống dưới, có lẽ tốc độ quay là 10 vòng mỗi giây và vận tốc tịnh tiến là khoảng 30 m/s. Dòng khí đi qua bề mặt bóng bị rối, sức cản trở nên nhỏ đi. Khi quả bóng bay được khoảng 10m, vận tốc giảm xuống, lực Magnus bẻ cong đường đi của nó và hướng nó về phía khung thành. Giả sử rằng, sự quay không bị yếu đi quá nhiều, khi đó hệ số cản tăng. Điều này thậm chí đã dẫn đến một lực làm lệch lớn hơn và bẻ cong đường bóng nhiều hơn. Cuối cùng, bóng bay chậm lại, nó chui vào lưới với một sự bẻ lái vô cùng kỳ thú. Những nghiên cứu tiếp theo về bóng đá
Có nhiều nghiên cứu về bóng đá hơn là sự khảo sát đơn giản về chuyển động của quả bóng. Các nhà nghiên cứu cũng rất hứng thú với việc tìm hiểu xem trên thực tế một cầu thủ sút một quả bóng như thế nào. Chẳng hạn, Stanley Plagenhof của Đại học Massachusetts đã nghiên cứu về động học của những cú sút – nói cách khác đó là sự xem xét chuyển động mà không chú ý đến các lực liên quan. Những nhà nghiên cứu khác, chẳng hạn như Elizabeth Roberts và các cộng sự ở Đại học Wisconsin đã thực hiện nghiên cứu về động lực học của những cú sút, nghĩa là xét đến cả các lực liên quan.
Những tiếp cận thực nghiệm này đã mang lại những kết quả rất hay, mặc dù vẫn còn nhiều thách thức. Một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất là sự khó khăn trong việc đo chuyển động vật lý của các cầu thủ, một phần là bởi vì chuyển động của họ không thể dự đoán trước được. Tuy nhiên, những tiến bộ gần đây trong việc phân tích chuyển động bằng máy tính đã thu hút được nhều sự chú ý đến lĩnh vực khoa học thể thao, và với sự áp dụng những phương pháp khoa học mới, bây giờ người ta đã có thể thực hiện những phép đo chính xác đối với chuyển động của con người.
Chẳng hạn, một nhóm nghiên cứu ở Đại học Yamagata, Nhật Bản đã kết hợp phương pháp máy tính với phương pháp động lực học truyền thống để mô phỏng cách mà các cầu thủ sút bóng. Những mô phỏng này đã cho phép tạo nên những cầu thủ bóng đá “ảo” với nhiều loại khác nhau. Những nhà sản xuất dụng cụ thể thao, chẳng hạn như ASICS cũng rất hứng thú với nghiên cứu này và họ đang tài trợ cho đề tài của Yamagata. Họ hy vọng là sẽ sử dụng các kết quả để thiết kế những dụng cụ thể thao tiện ích hơn, an toàn hơn và kinh tế hơn. Chuyển động của các cầu thủ được theo dõi bằng video tốc độ cao tới 4500 hình mỗi giây, và sự va chạm giữa chân và bóng được nghiên cứu bằng sự phân tích phần tử hữu hạn. Những thí nghiệm ban đầu đã chứng minh điều mà hầu hết các cầu thủ đều biết: nếu bạn dùng mu bàn chân sút vào tâm trọng lực của bóng, khi đó quả bóng sẽ bay đi theo đường thẳng. Tuy nhiên, nếu bạn sút bằng phần trước của bàn chân với một góc giữa ống chân và bàn chân là 90o, bóng sẽ đi theo đường cong. Trong trường hợp này sự va chạm là lệch tâm, nó sinh ra một lực tác động như một momen xoắn làm quay quả bóng.
Các thí nghiệm cũng chỉ ra rằng sự quay mà quả bóng có được là liên quan mật thiết với hệ số ma sát giữa bóng và bàn chân cũng như khoảng cách giữa bàn chân và tâm trọng lực của bóng. Mô hình phần tử hữu hạn cho sự va chạm giữa bàn chân và quả bóng được viết bằng phần mềm DYTRAN và PATRAN của tập đoàn MacNeal Schwendler đã được sử dụng để phân tích theo phương pháp số những hiện tượng này. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tăng hệ số ma sát giữa bóng và bàn chân khiến quả bóng quay nhiều hơn. Nó cũng sẽ quay nhiều hơn nếu vị trí bàn chân ở càng xa tâm trọng lực. Hai hiệu ứng thú vị khác cũng được quan sát. Thứ nhất, nếu khoảng cách bàn chân-tâm trọng lực tăng thì chân sẽ chạm bóng trong thời gian ngắn hơn và trên một vùng nhỏ hơn, điều này làm giảm cả vận tốc lẫn sự quay của bóng. Như vậy có một vị trí lý tưởng để sút bóng nếu bạn muốn nó quay mạnh nhất, nếu bạn sút vào vị trí quá gần hoặc quá xa tâm trọng lực, quả bóng sẽ chẳng quay gì hết. Hiệu ứng thú vị thứ hai là, ngay cả khi hệ số ma sát bằng không, quả bóng vẫn sẽ quay ở mức độ nào đó nếu bạn sút chệch khỏi tâm trọng lực. Quả bóng chịu một sự biến dạng hướng vào tâm, điều này gây nên một lực tác dụng gần tâm trọng lực. Như vậy, các cầu thủ vẫn có thể làm quả bóng quay trong những ngày trời mưa, mặc dù nó quay kém hơn so với những điều kiện khô ráo.
Dĩ nhiên, những sự phân tích này cũng có một vài hạn chế. Không khí bên ngoài quả bóng bị bỏ qua, và giả sử rằng không khí bên trong quả bóng diễn biến tùy thuộc vào độ nén, đó là mô hình dòng chảy nhớt. Đúng ra, một cách lý tưởng, cả không khí bên trong và bên ngoài quả bóng đều cần được xét đến, và những độ nhớt được mô hình hóa bằng việc sử dụng các phương trình Navier-Stokes. Cũng phải giả thiết rằng bàn chân là đồng nhất, khi đó rõ ràng là một bàn chân trên thực tế sẽ phức tạp hơn nhiều. Mặc dù không thể tạo ra một mô hình hoàn hảo có xét đến mọi yếu tố, nhưng mô hình này cũng đã bao gồm những yếu tố quan trọng nhất. Thay cho tiếng còi chung cuộcNào! Bây giờ, chúng ta có thể học được gì từ Roberto Carlos? Nếu bạn đá quả bóng đủ mạnh để dòng khí chạy qua bề mặt của nó trở nên bị rối, khi đó lực cản sẽ nhỏ và quả bóng sẽ “bay thực sự”. Nếu bạn muốn một đường bóng cong, hãy làm nó quay thật mạnh bằng việc sút vào vị trí lệch tâm của nó. Tuy làm việc này vào ngày khô ráo sẽ dễ dàng hơn ngày ẩm ướt, nhưng về nguyên tắc vẫn có thể làm được, bất chấp mọi điều kiện. Đường bóng sẽ cong đi khi quả bóng chậm lại và hình thành các lớp không khí có trật tự, vì vậy bạn cần phải luyện tập, thử nghiệm để đảm bảo rằng sự biến chuyển này xảy ra đúng nơi, đúng lúc – chẳng hạn như ngay sau khi quả bóng vượt qua hàng rào bảo vệ.​
 
Tức thờiTính công suất của đoạn mạch có hộp X
Bài toán
Một mạch điện xoay chiều gồm $AM$ nồi tiếp $MB$. Biết $AM$ gồm điện trở thuần $R_1$ ; tụ điện $C_1$, cuộn dây thuần cảm $L_1$ mắc nối tiếp. Đoạn $MB$ có hộp $X$, biết trong hộp X cũng có các phần tử là điện trở thuần, cuộn cảm, tụ điện mắc nối tiếp nhau. Đặt điện áp xoay chiều vào hai đầu mạch $AB$ có tần số $50Hz$ và giá trị hiệu dụng là $200$ V thì thấy dòng điện trong mạch có giá trị hiệu dụng $ 2$ A. Biết $R_{1}= 20 \Omega$ và nếu ở thời điểm t (s), $U_{AB}=200 \sqrt{2}$ V thì ở thời điểm $ t+\dfrac{1}{600}$s dòng điện $ i_{AB}= 0 $ (A ) và đang giảm. Công suất của đoạn mạch $MB$ là:
A. $266,4$W
B. $320$ W
C. $120$ W
D. $400$ W.
 
ruocchua1402 đã viết:
$\boxed{Bài tập}$ :Một mạch điện xoay chiều gồm $AM$ nồi tiếp $MB$. Biết $AM$ gồm điện trở thuần $R_1$ ; tụ điện $C_1$, cuộn dây thuần cảm $L_1$ mắc nối tiếp. Đoạn $MB$ có hộp $X$, biết trong hộp X cũng có các phần tử là điện trở thuần, cuộn cảm, tụ điện mắc nối tiếp nhau. Đặt điện áp xoay chiều vào hai đầu mạch $AB$ có tần số $50Hz$ và giá trị hiệu dụng là $200$ V thì thấy dòng điện trong mạch có giá trị hiệu dụng $ 2$ A.Biết $\boxed{R_1= 20}\Omega$ và nếu ở thời điểm t (s), $\displaystyle\boxed{ U_{AB}=200\sqrt{2}}$ V thì ở thời điểm $\displaystyle \boxed{t+\dfrac{1}{600}}$s dòng điện $\boxed{i_{AB}= 0} $ (A ) và đang giảm. Công suất của đoạn mạch $MB$ là:
$A.266,4$W

$B.120$ W
$C.320$ W
$D.400$ W
Coi $u=200\sqrt{2}\cos(100\pi.t)$ , $i=2\sqrt{2}\cos(100\pi.t+\varphi)$

Tại thời điểm $t=0$ s thì $U_{AB}=200\sqrt{2} => t=\dfrac{1}{600}$ thì $i=0 => \dfrac{\pi}{6} +\varphi =\dfrac{\pi}{2}$
$=> \varphi=\dfrac{\pi}{6}.$
$=> \dfrac{Z_L-Z_C}{R_1+R_2} =\sqrt{3}$
Mặt khác
$(R_1+R_2)^2+(Z_L-Z_C)^2 =100^2$
Thay $R_1=20 \Omega$ và $Z_L-Z_C =\sqrt{3}(R_1+R_2)$ vào tính được $R_2 =30 \Omega$
$=> P_{MB} =120 W$
$\boxed{Chọn B}$
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
C biến thiênTính $C$ để $\boxed{U_{AM}+U_{MB}}$ lớn nhất
Bài toán
Mạch điện AB gồm đoạn mạch AM và MB .Điện áp ở hai đầu đoạn mạch ổn định $u=U_0 \cos (\omega t)$ (V). Điện áp ở hai đầu đọan mạch AM sớm pha hơn cường độ dòng điện một góc $30^0$ .Đoạn mạch MB chỉ chứa một tụ điện có giá trị điện dung thay đổi được. Chỉnh giá trị của C để tổng $ U_{AM}+U_{MB}$ đạt giá trị lớn nhất.Khi đó điện áp hai đầu tụ điện C là:
A. $U$
B. $U_{0}$
C. $U.\sqrt{2}$
D. $U.\sqrt{3}$
 
Xem các bình luận trước…
$\boxed{Câu 3}$ :Một mạch điện xoay chiều gồm $AM$ nồi tiếp $MB$. Biết $AM$ gồm điện trở thuần $R_1$ ; tụ điện $C_1$, cuộn dây thuần cảm $L_1$ mắc nối tiếp. Đoạn $MB$ có hộp $X$, biết trong hộp X cũng có các phần tử là điện trở thuần, cuộn cảm, tụ điện mắc nối tiếp nhau. Đặt điện áp xoay chiều vào hai đầu mạch $AB$ có tần số $50Hz$ và giá trị hiệu dụng là $200$ V thì thấy dòng điện trong mạch có giá trị hiệu dụng $ 2$ A.Biết $\boxed{R_1= 20}\Omega$ và nếu ở thời điểm t (s), $\displaystyle\boxed{ U_{AB}=200\sqrt{2}}$ V thì ở thời điểm $\displaystyle \boxed{t+\dfrac{1}{600}}$s dòng điện $\boxed{i_{AB}= 0} $ (A ) và đang giảm. Công suất của đoạn mạch $MB$ là:
$A.266,4$W
$B.120$ W
$C.320$ W
$D.400$ W
 
ruocchua1402 đã viết:
$\boxed{Câu 3}$ :Một mạch điện xoay chiều gồm $AM$ nồi tiếp $MB$. Biết $AM$ gồm điện trở thuần $R_1$ ; tụ điện $C_1$, cuộn dây thuần cảm $L_1$ mắc nối tiếp. Đoạn $MB$ có hộp $X$, biết trong hộp X cũng có các phần tử là điện trở thuần, cuộn cảm, tụ điện mắc nối tiếp nhau. Đặt điện áp xoay chiều vào hai đầu mạch $AB$ có tần số $50Hz$ và giá trị hiệu dụng là $200$ V thì thấy dòng điện trong mạch có giá trị hiệu dụng $ 2$ A.Biết $\boxed{R_1= 20}\Omega$ và nếu ở thời điểm t (s), $\displaystyle\boxed{ U_{AB}=200\sqrt{2}}$ V thì ở thời điểm $\displaystyle \boxed{t+\dfrac{1}{600}}$s dòng điện $\boxed{i_{AB}= 0} $ (A ) và đang giảm. Công suất của đoạn mạch $MB$ là:
$A.266,4$W
$B.120$ W
$C.320$ W
$D.400$ W
Bạn copy bài này ra ngoài nhé, topic sẽ đóng khi bạn đưa bài ra ngoài. Mỗi bài nên thảo luận ở 1 topic sẽ dễ xem hơn.
Thân.
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
L biến thiênCho mạch điện RLC có L thay đổi được
Bài toán
Cho mạch điện RLC có L thay đổi được. Đặt vào hai đầu một điện áp xoay chiều $u = U_0 \cos(100 \pi t + \varphi )V$. Điều chỉnh giá trị của độ tự cảm L ta thấy khi $L = L_1 = \dfrac{3}{\pi} (H)$ và $L = L_2 =\dfrac{1}{\pi} (H)$ thì dòng điện tức thời i , i tương ứng đều lệch pha một một góc $\dfrac{\pi}{4}$ so với điện áp hai đầu mạch điện. Tính giá trị của C.
A. $C = \dfrac{50}{\pi} \mu (F)$.
B. $C = \dfrac{100}{\pi} \mu (F)$.
C. $C = \dfrac{150}{\pi} \mu (F)$.
D. $C = \dfrac{200}{\pi} \mu (F)$.
 
Xem các bình luận trước…
Re: Chuyên đề Dòng Điện Xoay Chiều.

lvcat đã viết:
$T_K$ đã viết:
Q

Câu 1. Cho mạch điện RLC có L thay đổi được. Đặt vào hai đầu một điện áp xoay chiều $u = U_0 \cos \left(100 \pi t + \varphi \right)V$. Điều chỉnh giá trị của độ tự cảm L ta thấy khi $L = L_1 = \dfrac{3}{\pi } \left(H\right)$ và $L = L_2 =\dfrac{1}{\pi } \left(H\right)$ thì dòng điện tức thời i , i tương ứng đều lệch pha một một góc $\dfrac{\pi }{4}$ so với điện áp hai đầu mạch điện. Tính giá trị của C.
A. $C = \dfrac{50}{\pi } \mu \left(F\right)$.
B. $C = \dfrac{100}{\pi } \mu \left(F\right)$.
C. $C = \dfrac{150}{\pi } \mu \left(F\right)$.
D. $C = \dfrac{200}{\pi } \mu \left(F\right)$.
Do độ lệch pha của i và u ở 2 trường hợp như nhau và $Z_{1L} > Z_{2L}$ nên ta có
$Z_{1L} -Z_C=Z_C - Z_{2L}$
$\Leftrightarrow Z_{1L}+Z_{2L}=2Z_C$
$\Leftrightarrow Z_C= 200 \Omega $
$\Rightarrow$ . $C = \dfrac{100}{\pi } \mu \left(F\right)$. Chọn đáp án B
Hình như câu này chọn A chứ!
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
Re: Chuyên đề Dòng Điện Xoay Chiều.

LoveBaBaPig đã viết:
lvcat đã viết:
$T_K$ đã viết:
Q

Câu 1. Cho mạch điện RLC có L thay đổi được. Đặt vào hai đầu một điện áp xoay chiều $u = U_0 \cos \left(100 \pi t + \varphi \right)V$. Điều chỉnh giá trị của độ tự cảm L ta thấy khi $L = L_1 = \dfrac{3}{\pi } \left(H\right)$ và $L = L_2 =\dfrac{1}{\pi } \left(H\right)$ thì dòng điện tức thời i , i tương ứng đều lệch pha một một góc $\dfrac{\pi }{4}$ so với điện áp hai đầu mạch điện. Tính giá trị của C.
A. $C = \dfrac{50}{\pi } \mu \left(F\right)$.
B. $C = \dfrac{100}{\pi } \mu \left(F\right)$.
C. $C = \dfrac{150}{\pi } \mu \left(F\right)$.
D. $C = \dfrac{200}{\pi } \mu \left(F\right)$.
Do độ lệch pha của i và u ở 2 trường hợp như nhau và $Z_{1L} > Z_{2L}$ nên ta có
$Z_{1L} -Z_C=Z_C - Z_{2L}$
$\Leftrightarrow Z_{1L}+Z_{2L}=2Z_C$
$\Leftrightarrow Z_C= 200 \Omega $
$\Rightarrow$ . $C = \dfrac{100}{\pi } \mu \left(F\right)$. Chọn đáp án B
Hình như câu này chọn A chứ!
Uhm, mình nhầm :D
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
Tức thờiMạch $C-R-L,r$. Viết biểu thức $u_{AM}$ với $AM$ gồm $C, \ R$
Bài toán
Cho mạch điện AB gồm một tụ điện có điện dung C; một điện trở hoạt động R và một cuộn cảm có điện trở thuần r và có độ tự cảm L ( theo thứ tự đó) mắc nối tiếp với $L = rRC$. Đặt vào hai đầu đoạn mạch một điện áp xoay chiều thì điện áp giữa hai đầu cuộn cảm có biểu thức $u_{AM}=100\cos\left( \omega t+\dfrac{ \pi}{12}\right)$(V). Vào thời điểm điện áp giữa hai đầu cuộn cảm bằng 69,28V thì điện áp giữa hai đầu mạch AM ( AM gồm C và R) là 30V. Biểu thức của điện áp giữa hai đầu đoạn mạch AM là
A. $u_{AM}=50\cos\left( \omega t-\dfrac{5 \pi}{12}\right)$(V).
B. $u_{AM}=50\cos\left( \omega t-\dfrac{ \pi}{4}\right)$(V).
C. $u_{AM}=200\cos\left( \omega t-\dfrac{ \pi}{4}\right)$(V).
D. $u_{AM}=200\cos\left( \omega t-\dfrac{5 \pi}{12}\right)$(V).
 
Xem các bình luận trước…
hohoangviet đã viết:
$L=rRC \implies U_{Lr} \perp U_{RC} \implies \left(\dfrac{u_{Lr}}{U_ {OLr} }\right)^2+ \left(\dfrac{u_{RC}}{U_{0RC}} \right)^2=1\implies U_{0RC}=50\implies \boxed{u_{AM}=50\cos\left( \omega t-\dfrac{ \pi}{4}\right) \left(V\right)}$
Anh giải thích em chỗ này được không ạ?
Tại sao: $L=rRC \implies U_{Lr} \perp U_{RC}$
 
kiemro721119 đã viết:
hohoangviet đã viết:
$L=rRC \implies U_{Lr} \perp U_{RC} \implies \left(\dfrac{u_{Lr}}{U_ {OLr} }\right)^2+ \left(\dfrac{u_{RC}}{U_{0RC}} \right)^2=1\implies U_{0RC}=50\implies \boxed{u_{AM}=50\cos\left( \omega t-\dfrac{ \pi}{4}\right) \left(V\right)}$
Anh giải thích em chỗ này được không ạ?
Tại sao: $L=rRC \implies U_{Lr} \perp U_{RC}$
Ta có $L=rRC \Rightarrow \dfrac{L}{C}=rR$
$\Leftrightarrow Z_L.Z_C=rR$
$\Leftrightarrow \dfrac{Z_L}{r}.\dfrac{Z_C}{r}=1$
Và ta lại có
nếu $\tan\varphi_1.\tan\varphi_2=1$ thì $\varphi_1+\varphi_2 = 90^0$
$\Rightarrow U_{Lr} \perp U_{RC}$
 
Lịch sử vật lí học.
Lịch sử vật lí học.
Từ xa xưa, con người đã cố gắng tìm hiểu về các đặc điểm của vật chất và đặt ra các câu hỏi như: tại sao một vật lại có thể rơi được xuống đất? tại sao vật chất khác nhau lại có các đặc tính khác nhau? Và vũ trụ kia vẫn là điều bí ẩn: trái đất được hình thành như thế nào? đặc điểm của các thiên thể như Mặt Trời hay Mặt Trăng ra sao? Một vài thuyết đã được đưa ra, nhưng đa phần đều không chính xác. Những thuyết này mang đậm nét triết lý và chưa từng qua các bước kiểm chứng như các thuyết hiện đại. Một số ít được công nhận, số còn lại đã lỗi thời, ví dụ như nhà tư tưởng người Hy Lạp, Archimedes, đưa ra nhiều miêu tả định lượng chính xác về cơ học và thủy tĩnh học.
Sir Isaac Newton (1643–1727)
Thế kỷ thứ 17, Galileo Galilei là người đi tiên phong trong lĩnh vực sử dụng thực nghiệm để kiểm tra tính đúng đắn của lý thuyết, và nó là chìa khóa để hình thành nên ngành khoa học thực nghiệm. Galileo xây dựng và kiểm tra thành công nhiều kết quả trong động lực học, cụ thể là Đinh luật quán tính. Năm 1687, Isaac Newton công bố cuốn sách Principia Mathematica, miêu tả chi tiết và hoàn thiện hai thuyết vật lý: Định luật chuyển động Newton, là nền tảng của cơ học cổ điểnĐịnh luật hấp dẫn, miêu tả lực cơ bản của hấp dẫn. Cả hai thuyết trên đều được công nhận bằng thực nghiệm. Cuốn sách Principia cũng giới thiệu một vài thuyết thuộc ngành thủy động lực học. Cơ học cổ điển được mở rông bởi Joseph Louis Lagrange, William Rowan Hamilton, và một số nhà vật lý khác, người đã xây dựng lên các công thức, nguyên lý và kết quả mới. Định luật hấp dẫn mở đầu cho ngành vật lý thiên văn, ở đó miêu tả các hiện tượng thiên văn dựa trên các thuyết vật lý học.Bước sang thế kỷ thứ 18, nhiệt động lực học được ra đời, bởi Robert Boyle, Thomas Young và một số nhà vật lý khác. Năm 1733, Daniel Bernoulli sử dụngphương pháp thống kê với cơ học cổ điển để đưa ra các kết quả cho nhiệt động lực học, từ đó ngành cơ học thống kê được ra đời. Năm 1798, Benjamin Thompson chứng minh được việc chuyển hóa cơ năng sang nhiệt, và năm 1847, James Prescott Joule dặt ra định luật bảo toàn năng lượng, dưới dạng nhiệt cũng như năng lượng cơ học, cơ năng.Đặc điểm của tính điện và từ tính được nghiên cứu bởi Michael Faraday, Georg Ohm, cùng với một số nhà vật lý khác. Năm 1855, James Clerk Maxwell thống nhất hai ngành điện học và từ học vào làm một, gọi chung là Điện từ học, được miêu tả bằng các phương trình Maxwell. Dự đoán của thuyết này đó là ánh sáng là một dạng sóng điện từ. Năm 1895, Wilhelm Conrad Roentgen (Röntgen) khám phá ra tia X quang, là một dạng tia phóng xạ điện từ tần số cao. Độ phóng xạ được tìm ra từ năm 1896 bởi Henri Becquerel, và sau đó là Marie Curie (Maria Skłodowska-Curie), Pierre Curie, cùng với một số nhà vật lý khác. Từ đó khai sinh ra ngành vật lý hạt nhân.
Albert Einstein (1879–1955)
Năm 1905, Albert Einstein xây dựng Thuyết tương đối đặc biệt, kết hợp không gian và thời gian vào một khái niệm chung, không-thời gian. Thuyết tương đối hẹpdự đoán một sự biến đối khác nhau giữa các điểm gốc hơn là cơ học cổ điển, điều này dẫn đến việc phát triển cơ học tương đối tính để thay thế cơ học cổ điển. Với trường hợp vật tốc nhỏ, hai thuyết này dẫn đến cùng một kết quả. Năm 1915, Einstein phát triển thuyết tương đối đặc biết để giải thích lực hấp dẫn, thuyết này do đó được gọi là Thuyết tương đối tổng quát hay Thuyết tương đối rộng, thay thế cho định luật hấp dẫn của Newton. Trong trường hợp khối lượng và năng lượng thấp, hai thuyết này cũng cho một kết quả như nhau.Năm 1911, Ernest Rutherford suy luận từ thí nghiệm tán xạ về sự tồn tại của hạt nhân nguyên tử, với thành phần mang điện tích dương được đặt tên là proton.Neutron, thành phần của hạt nhân nguyên tử không mang điện tích, được phát hiện ra năm 1932 bởi James Chadwick.Bước sang thế kể thứ 20, Max Planck, Einstein, Niels Bohr cùng với một số nhà vật lý khác xây dựng thuyết lượng tử để giải thích cho các kết quả thí nghiệm bất thường bằng việc miêu tả các lớp năng lượng rời rạc. Năm 1925, Werner Heisenberg và năm 1926 Erwin SchrodingerPaul Dirac công thức hóa cơ học lượng tử, để giải thích thuyết lượng tử bằng các công thức toán học. Trong cơ lương tử, kết quả của các đo đặc vật lý tồn tại dưới dạng xác suất, và lý thuyết này đã rất thành công khi miêu tả các đặc điểm và tính chất của thế giới vi mô.Cơ lượng tử là công cụ cho ngành vật lý vật chất đặc (condensed matter physics), một ngành nghiên cứu các tính chất vật lý của chất rắn và chất khí, bao gồm các đặc tính như cấu trúc tinh thể, bán dẫnsiêu dẫn. Người đi tiên phong trong ngành vật lý vật chất đặc đó là Felix Bloch, người đã sáng tạo ra một bộ mặt lượng tử các tính chất của electron trong cấu trúc tinh thể năm 1928.Trong Đệ nhị thế chiến, các nghiên cứu khoa học tập trung vào ngành vật lý hạt nhân với mục đích tạo ra bom nguyên tử. Sự cố gắng của người Đức, do Heisenberg dẫn đầu, đã không thành công, nhưng dự án Manhattan của Mỹ đã đạt được được mục đích. Nhóm khoa học người Mỹ, đứng đầu là Enrico Fermi đã là người đầu tiên xây dựng lò phản ứng hạt nhân năm 1942, và chỉ 3 năm sau, năm 1945, vụ thử hạt nhân đầu tiên đã diễn ra tại Trinity, gần Alamogorgo, New Mexico.Lý thuyết trường lượng tử được xây dựng để phát triển cơ lượng tử, với việc kết hợp thuyết tương đối hẹp. Một phiên bản mới được hình thành vào cuối năm 1940 bởi Richard Feynman,Julian Schwinger, TomonagaFreeman Dyson. Họ đã công thức hóa thuyết điện động lực học lượng tử để miêu tả tương tác điện từ.Thuyết trường lượng tử tạo nền cho ngành vật lý hạt, ở đó nghiên cứu các lực tự nhiên và các hạt cơ bản. Năm 1945. Dương Chấn NinhRobert Mills phát triển một dạng thuyết gauge, tạo cơ sở cho Mô hình chuẩn. Mô hình chuẩn đã được hoàn chỉnh vào năm 1970, với thành công là việc miêu tả tất cả các hạt biết được khi ấy.
 
Tính hệ số ma sát?
Bài toán
Một con lắc lò xo gồm một vật nặng khối lượng $1$ kg và một lò xo nhẹ độ cứng $100N/m$. Đặt con lắc trên mặt phẳng nằm nghiêng góc $\alpha=60^0$ so với mặt phẳng nằm ngang. Từ vị trí cân bằng kéo vật đến vị trí cách vị trí cân bằng $5cm$ rồi thả nhẹ không vận tốc ban đầu. Do có ma sát giữa vật và mặt phẳng nghiêng nên sau $10$ dao động vật dừng lại. Lấy $g=10m/s^2$, ma sát $\mu $ giữa vật và mặt phẳng nghiêng là:
A. $3.10^{-2}$
B. $2,5.10^{-2}$
C. $1,25.10^{-2}$
D. $1,5.15^{-2}$
 
sophia_kun đã viết:
Bài toán
Một con lắc lò xo gồm một vật nặng khối lượng $1$ kg và một lò xo nhẹ độ cứng $100 \ \text{N}/\text{m}$. Đặt con lắc trên mặt phẳng nằm nghiêng góc $\alpha=60^0$ so với mặt phẳng nằm ngang. Từ vị trí cân bằng kéo vật đến vị trí cách vị trí cân bằng $5 \ \text{cm}$ rồi thả nhẹ không vận tốc ban đầu. Do có ma sát giữa vật và mặt phẳng nghiêng nên sau $10$ dao động vật dừng lại. Lấy $g=10 \ \left(\text{m}/\text{s}^2\right)$, ma sát $\mu $ giữa vật và mặt phẳng nghiêng là:
A. $3.10^{-2}$
B. $2,5.10^{-2}$
C. $1,25.10^{-2}$
D. $1,5.15^{-2}$
Chọn C
Ta có. Biên độ giảm dần theo cấp số cộng với công sai :$d=\dfrac{5}{10}=0,5$ (cm)mà
$d=\dfrac{4\mu mg\cos \alpha}{k}$ Suy ra $\mu =\dfrac{0,5.10^{-2}.100}{4.1.10}=1,25.10^{-2}$
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
[ĐH-2012] Tuổi của khối đá?
Bài toán
Hạt nhân urani $_{92}^{238}U$ sau một chuỗi phân rã, biến đổi thành hạt nhân chì . Trong quá trình đó, chu kì bán rã của $_{92}^{238}U$ biến đổi thành hạt nhân chì là $4,47.10^9$ năm. Một khối đá được phát hiện có chứa $1,188.10^{20}$ hạt nhân $_{92}^{238}U$ và 6,239.1018 hạt nhân $_{82}^{206}Pb$ . Giả sử khối đá lúc mới hình thành không chứa chì và tất cả lượng chì có mặt trong đó đều là sản phẩm phân rã của $_{92}^{238}U$ . Tuổi của khối đá khi được phát hiện là ?
A. $ 3,5.10^7 \; \text{năm} $
B. $2,5.10^6 \; \text{năm} $
C. $6,3.10^9 \; \text{năm} $
D. $3,3.10^8 \; \text{năm} $
 
hohoangviet đã viết:
Hạt nhân urani $_{92}^{238}U$ sau một chuỗi phân rã, biến đổi thành hạt nhân chì . Trong quá trình đó, chu kì bán rã của $_{92}^{238}U$ biến đổi thành hạt nhân chì là $4,47.10^9$ năm. Một khối đá được phát hiện có chứa $1,188.10^{20}$ hạt nhân $_{92}^{238}U$ và 6,239.10^18 hạt nhân $_{82}^{206}Pb$ . Giả sử khối đá lúc mới hình thành không chứa chì và tất cả lượng chì có mặt trong đó đều là sản phẩm phân rã của $_{92}^{238}U$ . Tuổi của khối đá khi được phát hiện là ?
$A .\ 3,5.10^7 \; \text{năm} \qquad B. 2,5.10^6 \; \text{năm} \qquad C. 6,3.10^9 \; \text{năm} \qquad D. 3,3.10^8 \; \text{năm} $
Lời giải
Cẩn thận không thừa, viết phương trình phân rã:$\boxed{_{92}^{238}U \to _{82}^{206}Pb +X}$
Vậy số hạt $_{92}^{238}U$ còn lại sau thời gian $t$ và số hạt $_{82}^{206}Pb$ được tạo ra sau thời gian $t$ là:$N$ và $\Delta N$ với $N=N_0 e^{-\lambda. T}$ ;$\Delta N=N_0 \left(1-e^{-\lambda. T}\right)$
Ta có tỉ số $\dfrac{\Delta N}{N}=e^{\lambda. T}-1=1,0525 \to t=\boxed{3,3.10^8 \; \text{năm} }$
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
Quãng đường lớn nhất vật đi được
Bài toán
Một con lắc lò xo dao động điều hòa theo phương ngang với cơ năng dao động là $1J$ và lực đàn hồi cực đại là $10N$ . Mốc thế năng tại vị trí cân bằng. Gọi $Q$ là đầu cố định của lò xo , khoảng thời gian ngắn nhất giữa $2$ lần liên tiếp $Q$ chịu tác dụng lực kéo của lò xo có độ lớn $5\sqrt{3} \ N$ là $0,1s$. Quãng đường lớn nhất mà vật nhỏ của con lắc đi được trong $0,4s$ là :
A. $60cm$
B. $115cm$
C. $80cm$
D. $40cm.$
 
tungti28496 đã viết:
Một con lắc lò xo dao động điều hòa theo phương ngang với cơ năng dao động là $1J$ và lực đàn hồi cực đại là $10N$ . Mốc thế năng tại vị trí cân bằng. Gọi $Q$ là đầu cố định của lò xo , khoảng thời gian ngắn nhất giữa $2$ lần liên tiếp $Q$ chịu tác dụng lực kéo của lò xo có độ lớn $5\sqrt{3} \ N$ là $0,1s$. Quãng đường lớn nhất mà vật nhỏ của con lắc đi được trong $0,4s$ là :
$A. \ 60cm$
$B. \ 115cm$
$C. \ 80cm$
$D. \ 40cm.$
•Ta tìm được $A=20(cm),k=50(N/m$
•$F=5\sqrt{3}=\dfrac{F_{max}\sqrt{3}}{2} \Rightarrow t_{min}=\dfrac{T}{6}=0,1(s)\Rightarrow T=0,6(s)$
•$t=\dfrac{T}{2}+\dfrac{T}{6}\Rightarrow S_{max}=2A+A=3A=60(cm) \Rightarrow \boxed{A}$
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
Đuối quá mà ^^!
Không hiểu ý nhau

Hai cậu bé nói chuyện với nhau: "Nick yahoo của mày là gì, tao mượn tí!"

- Mày nói gì?

- Tao hỏi ID nick yahoo của mày là gì? Cho tao mượn!

- Tao nói là mày nói gì.

- Đồ điên, mày điếc hả? Tao hỏi ID nick chat của mày là gì?

- Mày nói gì. Nick là mày nói gì, mày nói gì. Hiểu chưa?

- À... à... thế còn password là gì?

- Mày nói gì?

- Ô, đặt hai cái y chang nhau à? Không sợ hack hả mày?

- Điên. Tao đang hỏi mày, mày nói gì tao nghe không ra?

- Giỡn hả mày? Tao hỏi password của mày, mật khẩu đó. Mày hiểu không?

- Password giống như ID.

- Ờ, vậy pass là mày nói gì à?

- Không phải, pass giống như ID cơ mà.

- Tao mới hỏi mày la không phải giờ nói giống là sao?

- Tao lạy mày, tao sợ mày quá. Pass giống như ID, giống như ID hiểu chưa ông nội?

- Thì lúc nãy tao nói giống nhau mà mày không chịu là sao?

- !!!!!
 
Xem các bình luận trước…
Xin tài liệu vật lí luyện thi ĐH!
Mình là mem 95, đang lo cho kì thi sắp tới( tính bằng tháng thôi nhé). Mình mong anh chị hay các bạn nào có ebook nào hay thì share cho mọi người tham khảo với. Cảm ơn anh chị và các bạn nhiều :D
 
Xem các bình luận trước…
Thomas Edison (1847 - 1931)
Thomas Edison (1847 - 1931) nhà phát minh số một của Hoa Kỳ và thế giới.

1/ Thời thơ ấu.

Vào khoảng tháng 12 năm 1837, Đại Úy William L. Mackenzie và các đồng chí trong đó có ông Samuel Edison, đã tổ chức một cuộc cách mạng, định đánh chiếm thành phố Toronto thuộc Gia Nã Đại nhưng mưu sự không thành. Để tránh sự lùng bắt, ông Samuel Edison phải trốn sang Michigan, Hoa Kỳ, rồi lưu lại Detroit vì thời bấy giờ, chính phủ Canada dự định lưu đầy các phạm nhân chính trị sang Tasmania, châu Úc.Sau khi mang được gia đình gồm vợ và hai con sang Hoa Kỳ vào đầu năm 1839, ông Samuel Edison dời nhà tới Milan, thuộc tiểu bang Ohio. Milan là một thị trấn nhỏ bên giòng sông Huron, cách hồ Erie vài dặm đường. Tại Milan, công việc buôn bán khá sầm uất. Từ nơi đây người dân chở đi nào ngũ cốc, rau trái, nào củi gỗ và các nông sản khác. Ông Samuel Edison dựng nên tại nơi đây một xưởng cưa và công việc làm ăn khá phát đạt. Chính tại nơi cư ngụ mới này, gia đình Edison đã có thêm một đứa trẻ vào ngày 11/2/1847. Ông Samuel đặt tên cho đứa bé là Thomas Alva Edison để ghi nhớ Đại Úy Alva Bradley đã có công giúp đỡ gia đình Samuel sang Hoa Kỳ.Alva hay Al, tên gọi tắt, là một đứa trẻ có cái đầu to khác thường khiến cho bác sĩ bảo cậu sẽ bị đau óc nhưng điều tiên đoán này đã trở thành sai lầm và thực ra, chính bộ óc của Al sau này đã làm tiến triển ngành Kỹ Thuật của Nhân Loại. Càng lớn, Al càng tỏ ra hiếu kỳ. Cậu thường đặt các câu hỏi “tại sao, thế nào... “ và các câu thắc mắc không bao giờ hết của cậu đã khiến cho những người chung quanh đành phải trả lời “không biết”. Khi lên 5 tuổi, Al thường lang thang bên bờ sông mà coi người lớn làm việc. Tại nơi này, cậu được nghe nhiều bài hát và đã thuộc lòng rất nhanh các câu ca bình dân, điều này chứng tỏ Al có một trí nhớ rất tốt và nhờ trí nhớ này mà về sau, cậu thu thập được nhiều kiến thức sâu rộng.Vào năm 1850, đường xe lửa được đặt tại nhiều nơi trên đất Hoa Kỳ. Tại Milan, các bô lão từ chối không cho phép đường sắt đi qua làng mình vì e ngại công việc làm trên sông bị tê liệt. Vì thế đường xe lửa chỉ được thiết lập tại phía bắc tiểu bang Ohio và cũng do vậy, thị trấn Milan trở nên kém sầm uất. Ông Samuel đành phải đóng xưởng cưa và dọn nhà qua Port Huron, thuộc tiểu bang Michigan vào năm 1854. Tại Port Huron, ông Samuel buôn bán ngũ cốc, củi gỗ và cũng trồng rau và trái cây. Năm lên 8 tuổi, Al từng giúp cha, chất rau trái lên một chiếc xe ngựa và đi bán hàng từng nhà trong thị xã.Al cũng được cha mẹ cho đi học tại một ngôi trường độc nhất. Trường chỉ có một lớp với khoảng 40 học sinh, lớn có, nhỏ có, học một ông giáo theo các trình độ khác nhau. Trong phòng học những chỗ ngồi gần ông thầy chỉ để dành cho các trẻ em ngu đần. Tại lớp học, Al đặt rất nhiều câu hỏi hắc búa mà lại không chịu trả lời các câu hỏi của thầy. Al thường đội sổ, khiến cho các bạn cậu chế riễu cậu là đần độn.Một hôm, nhân có viên thành tra vào thăm lớp học, thầy giáo đã chỉ vào Al và nói : “trò này điên khùng, không đáng ngồi học lâu hơn”. Al rất căm hận về hai chữ “điên khùng” và đem câu chuyện này kể lại với mẹ. Bà Nancy khi nghe kể xong, liền nổi giận, bà dẫn ngay Al đến trường và bảo ông giáo : “ông bảo con tôi điên khùng hả? Tôi nói thật cho ông rõ, trí óc của nó còn hơn ông đấy. Tôi sẽ giữ nó tại nhà và dạy lấy, vì tôi đã là giáo viên, để ông thấy rằng sau này nó sẽ ra sao!”.Từ đó, Alva không đến trường nữa mà học với mẹ tại nhà trong suốt 6 năm trường. Nhờ mẹ, Al học dần các môn Lịch Sử của Hy Lạp, La Mã và Sử Thế Giới. Al cũng được làm quen với Thánh Kinh, với các tác phẩm của Shakespeare và của các văn sĩ, thi sĩ, sử gia danh tiếng khác. Nhưng đặc biệt nhất, Al ưa thích Khoa Học. Cậu có thể kể lại rành mạch các phát minh, các thí nghiệm và tiểu sử của các đại bác học như Newton, Galileo. . . Chỉ trong vòng 6 năm, bà Nancy đã truyền lại cho con tất cả kiến thức của mình, từ môn Địa Dư với những tên núi sông, tới môn Toán Học chính xác. Bà Nancy không những dạy con về học vấn mà còn huấn luyện Al về hạnh kiểm. Al được mẹ nhắc nhở các đức tính thật thà, ngay thẳng, tự tin và cần cù, cộng với lòng ái quốc và tình yêu nhân loại.Al học hành tiến bộ rất nhanh chóng khiến cho cha rất hài lòng. Ông Samuel thường cho con các món tiền nhỏ đủ mua dần từng cuốn sách hữu ích, nhờ thế Al đã say sưa với các tác phẩm như Ivanho của Scott, Robinson Crusoe của Defoe và Oliver Twist của Dickens. Nhưng tác giả mà Al ưa thích nhất là Victor Hugo và cậu thường kể lại cho các bạn nghe các câu chuyên đã đọc qua.Năm 10 tuổi, Al được cha cho cuốn sách toát yếu về Khoa Học của soạn giả Parker (School Compendium of Natural and Experimental Philosophy by Richard Green Paker). Trong cuốn sách toát yếu này, Paker đã giảng giải về máy hơi nước, máy điện báo, cột thu lôi, pin Volta. . . Cuốn sách đã trả lời Al rất nhiều điều mà từ trước, Al vẫn thường thắc mắc. Cuốn sách này đã dẫn đường cho Al tới phạm vi rộng lớn của Khoa Học và khiến cho cậu yêu thích môn Hóa Học.

2/ Thời kỳ thực tập

Năm 12 tuổi, Al nói với cha mẹ : “Thưa cha mẹ, con hiện nay cần nhiều tiền, cha mẹ cho phép con đi xin việc làm”. Hai ông bà Edison đã ngăn cản con vì lo sợ Al sẽ gặp phải các rủi ro, hơn nữa công việc kiếm ăn sẽ làm trở ngại sự học nhưng Al đã quyết định rồi, cậu nằng nặc đòi cha mẹ cho phép thử tự lập và hứa rằng sẽ hết sức thận trọng.

Thời bấy giờ, công ty xe lửa Grand Trunk thiết lập một ga nhỏ tại Port Huron. Al xin được phép bán báo, tạp chí, sách vở, trái cây và bánh kẹo trên xe lửa chạy quãng đường Port Huron và Detroit dài 101 cây số. Từ đó cậu bé 12 tuổi này mỗi tháng thức dậy lúc 6 giờ để đáp chuyến xe lửa 7 giờ và tới Detroit lúc 10 giờ. Thông thường tới Detroit, Al vội vã đến thư viện và nghiền ngẫm trong nhiều giờ các cuốn sách mà cậu không thể tìm thấy tại nơi mình cư ngụ. Al tập dần cách đọc nhanh và cậu quyết định bắt đầu đọc các sách của các tác giả từ vần A cho tới hết 16,000 cuốn của thư viện. Tới 6 giờ chiều, Al lại ra xe và trở về Port Huron lúc 9 giờ 30 tối. Ít khi Al đi ngủ trước 11 giờ đêm vì cậu còn phải làm các thí nghiệm hóa học trong hơn một giờ đồng hồ.

Trong thời gian bán báo và kẹo bánh trên xe lửa, Al làm quen được nhiều người gồm các chuyên viên điện báo, các công nhân và nhân viên nhà ga. Cậu được các người này giúp đỡ trong nhiều trường hợp khó khăn.

Vào năm 1861, cuộc Nội Chiến Nam Bắc Mỹ bùng nổ. Các trận đánh càng ác liệt thì số báo lại càng bán chạy. Al bèn nghĩ tới việc bán báo tại tất cả các nhà ga phụ. Vào ngày 01 tháng 4 năm 1862, tờ báo Free Press loan tin trận đánh quyết định tại Shiloh trong tiểu bang Tennessee. Al liền chạy vội tới tòa báo Free Press là tờ báo lớn nhất tại Detroit và hỏi mua 1,000 tờ trả tiền sau, rồi Al và hai người bạn vác báo lên tầu. Tại các ga đầu, số báo bán được còn ít ỏi nhưng càng đi xa hơn, số người hỏi mua báo càng gia tăng khiến cho Al nghĩ cả đến việc tăng giá báo từ 5 xu tới 10 xu, rồi sau cùng bán tới 25 xu một tờ. Nội trong ngày hôm đó, Al đã bán hết 1,000 tờ báo trước khi tới Port Huron và thu được hơn 100 đô la, một số tiền lớn nhất mà cậu kiếm được từ trước tới nay.

3/ Ông chủ báo nhỏ tuổi và điện tín viên

Một sáng kiến khác lại nẩy ra trong đầu óc của cậu bé đầy nghị lực này : Al định ra báo. Cậu liền mua một máy in quay tay và cậu thiết lập thêm trong toa hành lý “một cơ sở báo chí” nữa. Al đã cho ra đời tờ tuần báo khổ nhỏ có tên là “The Weekly Herald” (Diễn Đàn Hàng Tuần). Viên chủ nhiệm nhỏ tuổi này nhận thấy không thể cạnh tranh với các báo chí tại Detroit về các tin tức chiến sự nên quyết định chỉ phổ biến mọi tin xẩy ra trong vùng dọc theo hai bên con đường sắt. Cậu thu lượm tin tức nhờ các chuyên viên điện báo địa phương. Al vừa là chủ nhiệm, quản lý, vừa là ký giả, thợ in và người bán báo. Từ đó tuần báo The Weekly Herald 2 trang, được in mỗi mặt 3 cột. Ngoài các tin tức địa phương, Al còn cho phổ biến các tin về hiếu hỉ, các tai nạn, hỏa hoạn. . .

Báo của Al bán được khá chạy. Ngay ở số đầu tiên đã tiêu thụ được chừng 400 tờ trong một tháng. Al còn nhận cả việc quảng cáo trên báo nữa. Tuần báo The Weekly Herald đã có lần được bán cho nhà phát minh người Anh là ông Stephenson khi viên kỹ sư này một hôm đi trên chuyến xe lửa qua miền Port Huron. Ông Stephenson đã ngợi khen các ý tưởng của Al và ông quả quyết rằng báo của cậu cũng giá trị như các báo của những người lớn gấp đôi tuổi.

Muốn làm gia tăng số độc giả, Al cho thêm vào tuần báo một đề mục chuyện nói chuyện ngồi lê mách lẻo và ký dưới tên hiệu Paul Pry (Paul, người tọc mạch). Al đã dùng báo chí của mình để chỉ trích một vài người trong vùng và cậu đã cẩn thận ghi tên của họ bằng mẫu tự đầu tiên. Nhưng quãng đường 101 cây số rất ngắn ngủi, không thể giúp Al tránh khỏi sự săn đuổi của những nạn nhân bị chế nhạo. Rồi vào một ngày đẹp trời, khi Al đang đi bộ trên bờ sông Saint Clair, bỗng có một người vạm vỡ tiến lại gần Al, túm cổ viên chủ nhiệm nhỏ tuổi, ném xuống sông. Al ngoi lên bờ, quần áo ướt như chuột. Bực mình vì bị một số độc giả luôn rình rập quấy rầy, Al quyết định ngưng việc làm báo.

Vào một buổi sáng tháng 8 năm 1862, Al đứng nói chuyện với ông Mackenzie, nhân viên nhà ga kiêm chuyên viên điện báo. Ông Mackenzie có một đứa con trai 2 tuổi rưỡi, tên là Jimmy, thường hay lân la chơi tại sân ga. Khi đang trò chuyện, bỗng Al trông thấy Jimmy đang đi dọc theo đường sắt trong khi đó, một toa xe goòng đang phóng đến. Nhận thấy sự nguy hiểm trước mắt, Al liền lao mình tới chỗ đứa bé, ôm lấy nó mà lăn ra phía ngoài. Để đền đáp ơn cứu tử đứa con của mình, ông Mackenzie nhận dạy Al nghề điện báo và hứa sẽ xin việc cho cậu khi nào Al thành thạo.

Từ đó Al bắt đầu bỏ ra mỗi ngày 18 giờ để học về điện báo và chữ Morse. Chỉ trong vài tuần lễ, Al đã theo kịp tất cả các tín hiệu do ông Mackenzie đánh đi. Sau 3 tháng học hỏi, không những Al tiến bộ đến nỗi ông Mackenzie phải gọi Al là chuyên viên điện báo hạng nhất, và Al còn chế tạo được một máy điện tín có đầy đủ tính cách toàn hảo cũng như cho phép người xử dụng máy gửi điện tín đi thật nhanh chóng.

Trong thời kỳ Nội Chiến Nam Bắc Mỹ, hàng trăm điện tín viên bị gọi nhập ngũ vào các đội truyền tin. Kết quả của sự kiện này là các công ty thương mại cũng như hỏa xa thiếu chuyên viên. Vì thế xin một chân làm việc về điện tín là một điều dễ dàng và một người mới học nghề cũng có thể kiếm được việc. Vào khoảng năm 1864, Al nhận thấy có đủ khả năng nhận một chân điện tín viên nên từ bỏ nghề bán báo và tới Stradford, Gia Nã Đại, xin làm việc vào tháng 5. Al trở thành điện tín viên tại ga Stratford này và lãnh lương mỗi tháng 25 đô la.

Từ năm 1864 tới năm 1868, Al đã làm việc tại nhiều nơi như New Orleans, Indianapolis, Louisville, Memphis và Cincinnati. . . Chàng thanh niên này cũng bắt đầu bỏ cách gọi tắt là Al mà dùng tới tên chính là Thomas hay cách gọi thân mật là Tom.

Thomas Edison bây giờ là một chàng thanh niên khỏe mạnh, nhiều thiện cảm và vui tính. Sự cởi mở, lòng chân thật đã khiến Tom có nhiều bạn nhưng cách làm việc đặc biệt của Tom đã khiến cho các bạn bè cho chàng là người kỳ quặc. Tom ăn mặc giản dị, quần áo cũ kỹ và dính mực, đôi giày của chàng mòn đế cũng không khiến chàng nghĩ đến việc thay đôi mới. Vào mùa lạnh, Tom cố chịu rét hơn là bỏ tiền mua một áo choàng bằng nỉ vì chàng đã dồn tiền vào việc mua sắm các sách vở khoa học và dụng cụ thí nghiệm.

Vào đêm hôm 14/ 4/1865, cuộc Nội Chiến Nam Bắc Mỹ chấm dứt, làm cho hàng trăm điện tín viên mất việc. Tom Edison trở về Louisville rồi tới cuối năm 1868, từ biệt cha mẹ đi Boston để nhận chân chuyên viên điện tín. Năm 21 tuổi, Tom thực hiện được phát minh đầu tiên, đó là một máy đầu phiếu. Tom gửi sáng kiến này tới Phòng Văn Bằng Sáng Chế rồi đưa trình lên Quốc Hội, nhưng vào thời đó không nghị sĩ nào ưa thích thứ máy móc tân kỳ đó. Mặc dù thất bại, Tom lại bắt đầu làm nhiều việc khác. Chàng đã chế ra được một máy điện báo cùng một lúc gửi đi hai điện tín trên một đường dây.

4/ Thời kỳ thành công

Vào một buổi sáng tháng 6 năm 1869, con tầu khởi hành từ Boston tiến dần vào hải cảng New York. Edison, chàng thanh niên 22 tuổi, đứng trên boong tầu, mơ màng nhìn vào thành phố xa lạ, không người quen biết, trong túi không có một đồng nào bởi vì chàng đang mang nợ 800 đô la. Edison rời Boston với hai bàn tay trắng vì chàng đã để lại tất cả các dụng cụ thí nghiệm cùng sách vở cho chủ nợ, hứa sẽ trở lại lấy khi có đủ tiền thanh toán. Nhưng có nhiều thứ mà không ai có thể lấy bớt được ở chàng, đó là lòng cam đảm, ý chí theo đuổi mục đích, học vấn và kinh nghiệm kỹ thuật cùng với các đức tính khác mà chàng đã thu lượm được vào thời niên thiếu.

Ngày đầu tiên tại New York, Tom đi tới tất cả các cơ sở điện báo để tìm kiếm người quen và đã vay mượn được một đô la. Sống với đồng tiền nhỏ mọn này cho tới ngày thứ ba, Tom khi đi qua Công Ty Hối Đoái Gold Indicator thì thấy hàng trăm người đang chen chúc chờ đợi. Tom tiến lại gần thì được biết rằng chiếc máy ghi giá vàng bị trục trặc và vì thế thị trường vàng hoàn toàn bị trở ngại. Khi đó viên giám đốc của công ty, Bác Sĩ Laws, đang la ầm lên : “Tôi trả lương cho hàng tá người mà chẳng ai làm được việc gì ! Ôi, tôi chỉ cần một người thợ có tài là đủ!”. Nghe thấy vậy, Tom tiến lại gần ông Laws và nói : “Thưa ông, tôi không phải là thợ của ông nhưng tôi tự xét có thể sửa chữa được chiếc máy”. Trong vòng hai giờ, chiếc máy do Tom sửa chữa lại chạy đều như trước. Ngày hôm sau, sau khi khảo sát khả năng, Bác Sĩ Laws đã thuê Tom làm quản đốc kỹ thuật với lương tháng 300 đô la.

Mặc dù lương bổng cao, Tom Edison luôn chán nản trước hoàn cảnh làm công cần cù vì trong đầu óc của chàng đang chứa đựng hàng tá sáng kiến sôi động. Trong khoảng thời gian làm việc tại công ty hối đoái, Edison được gặp Franklin L. Pope và hai người bàn với nhau hợp tác trong một công cuộc kinh doanh. Ngày 01/ 10/1869, Edison và Pope lập ra xưởng điện cơ và điện báo rồi ít lâu sau, lại có J. N. Ashley của tờ báo Telegraph cộng tác. Để sống gần người bạn cộng sự, Edison dọn nhà tới thị xã Elizabeth, thuộc tiểu bang New Jersey. Vì muốn tiết kiệm thời giờ dùng cho các công việc cần thiết, Edison tự luyện tập các giấc ngủ thật ngắn, mỗi ngày ngủ 3 hay 4 lần. Ngoài 5 giờ để ngủ, thời gian được chàng dùng cho các cải tiến kỹ thuật và công việc chuyên môn.

Vào thời bấy giờ, điện tín được ghi bằng các chấm và gạch in trên những băng giấy dài, rồi người ta lại phải chép tay ra các bản điện tín trước khi gửi cho người nhận. Nếu có cách nào in bằng chữ lên các phiếu điện tín, người ta sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian vô giá. Điều này làm Edison suy nghĩ. Vì Edison nổi tiếng về giỏi Kỹ Thuật, Tướng Marshall Lefferts, giám đốc công ty Gold and Stock Telegraph liền nhờ Edison biến đổi loại máy thường ra máy điện tín in chữ. Sau vài tháng tìm tòi, Edison đã thành công và lấy bằng phát minh vào năm 1869. Máy móc mới này của Edison vừa giản dị hơn, vừa chính xác hơn loại cũ nên đẵ khiến ông Lefferts đề nghị mua lại bằng sáng chế.

Công việc làm ăn của Edison tăng lên một cách rất nhanh chóng khiến chàng và các hội viên khác đồng ý đổi cơ xưởng cũ thành Công Ty Điện Báo Tự Động (The Automatic Telegraph Co.). Lúc đầu chàng chỉ mướn 18 người thợ rồi số thợ tăng lên dần tới 50 và sau này tới 250 người. Nhiều người làm việc với Edison đã trở nên các kỹ sư tài ba và đã cộng tác với chàng cho tới chết. Edison chia thợ ra từng toán, làm từng phiên cả sáng lẫn đêm. Mặc dù mới 23 tuổi, Edison được nhiều người tặng cho biệt hiệu “lão già” vì chàng điều kiển nhóm chuyên viên của mình một cách chín chắn, đôi khi hơi tàn ác nhưng ngược lại, chàng trả lương các nhân viên rất hậu, căn cứ vào tài khéo và thời gian làm việc vì chàng muốn họ đóng góp với tất cả lương tâm nghề nghiệp.

Vóc người mập mạp, Thomas Edison có đôi mắt sắc sảo dưới hàng mi rậm rạp và chiếc trán rộng. Với dáng đi nặng nề, chàng đi đi, lại lại trong xưởng, quần áo vừa bẩn lấm, vừa tả tơi, mang vào mình hình ảnh một tên vô nghề nghiệp hơn là một viên đốc công, một vị giám đốc và cũng là một kỹ nghệ gia đầy tương lai hứa hẹn. Thực vậy, người ta phải ngạc nhiên về cơ xưởng của Edison, không những do các hoạt động mà còn vì giờ giấc. Edison đã treo trong xưởng tất cả 6 chiếc đồng hồ, chỉ các giờ giấc khác nhau và nhân viên của chàng thường theo chàng làm đến hết việc chứ không phải hết giờ. Trong khoảng thời gian từ năm 1870 tới 1876, bắt đầu với tuổi 23, Thomas Edison đã cầu chứng 122 phát minh và như thế, mỗi tháng trung bình chàng có hơn một sáng kiến được thực hiện.

Vào thời kỳ của phát minh thứ 46, Thomas Edison được nghe người ta kể lại rằng Christopher Sholes tại Milwakee đang thí nghiệm về một thứ máy móc gọi là “máy đánh chữ”. Vì biết rằng thứ máy mới này sẽ góp phần to lớn trong việc chế tạo máy điện báo tự động, Edison liền mời Sholes mang mẫu máy tới Newark và chàng đã đề nghị nhiều sửa đổi hợp lý. Công Ty The Automatic Telegraph là nơi đầu tiên chế tạo máy đánh chữ rồi dùng nó trong văn phòng và chiếc máy đánh chữ đó đã mở đường cho các máy Remington mà sau này được dùng trên khắp thế giới. Nếu Morse phát minh ra máy điện báo thì Edison lại góp vào đó rất nhiều cải tiến quan trọng khiến cho chính Morse cũng khó nhận ra được phát minh của mình. Không những Edison hoàn thành máy điện báo kép cho phép gửi đồng thời 2 điện tín trên cùng một đường dây mà còn phát minh ra một phương pháp gửi đồng thời 4 hay 5 điện tín. Edison còn cứu vãn Công Ty Western Union khỏi bị phá sản bằng một hệ thống truyền tin mới.

Vào một buổi chiều năm 1870, Edison ngồi một mình trong văn phòng. Các thợ thuyền đã ra về trong khi nhà phát minh còn nán lại vì chàng muốn ghi chép cho xong các nhận xét về một thứ máy đang hoàn thành. Edison định ra về thì một trận mưa lớn đổ xuống. Lúc ra cửa, chàng gặp hai thiếu nữ đứng trú mưa tại lối đi. Edison liền tự giới thiệu : “Tôi là Thomas Edison, chủ nhân tiệm này. Xin mời các cô vào văn phòng chờ hết mưa. Tôi sẽ đi thắp đèn lên”. Một thiếu nữ trả lời chàng : “Chúng tôi không dám phiền ông, ông Edison ạ. Tôi là Mary Stilwell, còn đây là em Alice của tôi”. Edison cúi chào hai thiếu nữ và nói chuyện xuông với hai chị em Stilwell cho qua thời giờ. Nhưng ánh mắt trong sáng, khuôn mặt xin xắn và cử chỉ thanh lịch của Mary đã làm tâm hồn Edison xao xuyến.

Từ đây, Edison không thể quên hình ảnh của Mary. Chàng hỏi dò bạn bè thì được biết Mary là một giáo viên tại Newark. Edison liền nhờ bạn đưa lại thăm gia đình Stilwell và sau buổi viếng thăm, chàng thấy rằng mình đã tìm được người vợ mong ước. Sau đó, Edison thường cùng Mary đi coi hát, dự các buổi hòa tấu nhạc hay đi cắm trại ngoài trời. Sau một năm trường chờ đợi sự ưng thuận của gia đình Stilwell, Edison đã cử hành hôn lễ với Mary vào ngày lễ Giáng Sinh năm 1871.

Cuối năm 1871, Edison đã có ba tiệm khác nhau tại Newark. Ba cơ xưởng ở rải rác trong một thành phố lớn đã làm mất nhiều thời giờ và năng lực quý báu của nhà phát minh. Vì vậy Edison quyết định tìm kiếm nơi xây cất một cơ xưởng lớn hơn cách Newark 40 cây số. Menlo Park là một ga nhỏ trong tiểu bang New Jersey nhưng khá yên tĩnh, thích hợp cho nhà phát minh làm việc. Ngày 3/ 01/1876, công cuộc xây cất bắt đầu. Edison đã phác họa từng chi tiết cho đồ án phòng thí nghiệm và cơ xưởng.

Cũng trong năm này, công ty Western Union lại nhờ Edison cải tiến máy điện thoại của Alexander Graham Bell vừa mới cầu chứng cách đó ít lâu. Thời bấy giờ, điện thoại của Bell là một bộ máy còn rắc rối, ống nói và loa nghe được làm chung, và người ta để loa lên miệng để nói rồi đặt vào tai nghe. Tầm hoạt động của máy bị giới hạn và dù nói từ phòng nọ sang phòng kia, những tiếng sè sè của máy sinh ra do bộ ma nhê tô đã làm cho việc đối thoại rất khó khăn. Sau hai năm tìm tòi, Edison đã phát minh ra bộ vi âm (microphone), hoàn thành một máy truyền (transmetteur) dùng thỏi than và đã thành công rực rỡ trong việc truyền tiếng nói qua 225 cây số đường dây. Edison làm cho cường độ tiếng nói qua máy điện thoại lớn gấp bội và âm thanh trở nên rõ ràng. Hãng Western Union đã mua lại bằng sáng chế chiếc máy truyền với giá 100,000 đô la. Thành công của Edison trong việc cải tiến máy điện thoại đã khiến người đời phải nói rằng “Bell đã phát minh ra máy điện thoại nhưng chính nhờ Edison mà máy điện thoại trở thành hữu dụng”.

9/ Danh vọng cuối cùng

Từ năm 12 tuổi tới lúc già, Thomas Edison đã làm việc miệt mài mà không biết mỏi. Ông đã tự học từ năm lên 7 tuổi, khi bà Nancy kéo con về nhà. Ông Edison là một người đọc sách không biết mệt và thường hay thực hiện 6 dự án cùng một lượt. Lúc 70 tuổi, ông còn coi mình như một người đang độ sung sức.Năm 1918 khi Thế Chiến Thứ Nhất kết thúc, ông Edison trở về phòng thí nghiệm và bắt tay vào việc nghiên cứu một chất cần thiết cho cả thời chiến lẫn thời bình : chất cao su. Tới năm 75 tuổi, ông Edison mới chịu giảm bớt thời giờ làm việc xuống 16 giờ một ngày. Ông thực hiện thứ đĩa hát quay lâu (disque de longue durée) vào năm 80 tuổi.

Ngày 21/ 10/1929, ông Thomas Edison được mời làm khách danh dự trong một bữa tiệc tổ chức tại Detroit. Tối hôm đó Tổng Thống Hoa Kỳ Herbert Hoover đã đứng lên ca tụng nhà Đại Phát Minh. Edison đã đáp từ bằng mấy câu cảm ơn ngắn. Bỗng bà Mina thấy mặt ông tái xanh đi rồi ông ngã người xuống ghế. Bác sĩ riêng của Tổng Thống điều trị cho ông nhưng sức mạnh không thể trở lại với ông. Edison yếu dần từ đó.

Sáng ngày Chủ Nhật, 18/10/1931, Thomas Edison lìa trần và 3 ngày sau, đúng ngày sinh nhật thứ 52 của chiếc đèn điện đầu tiên, đám tang nhà Đại Phát Minh được cử hành rất trọng thể tại thành phố West Orange, New Jersey. Buổi tối hôm đó, tất cả đèn điện trên toàn thể lãnh thổ Hoa Kỳ đều tắt trong một phút để tưởng nhớ một Vĩ Nhân, một “Người Bạn của Nhân Loại” mà 52 năm về trước, đã cho Nhân Loại một thứ đèn quý giá.

Vào 2 năm trước, 1929, nhân ngày kỷ niệm chiếc đèn điện được 50 tuổi, ông Henry Ford cho thiết lập tại Greenfield Park, thuộc tiểu bang Michigan, một ngôi làng lịch sử nhắc nhở lại cuộc đời và công trình của Thomas Edison. Phòng thí nghiệm tại Menlo Park cũng được dựng lại với tất cả chi tiết cũ cùng các máy móc xưa. Henry Ford cũng cho tìm kiếm và mua lại được 2 tờ báo The Weekly Herald, tờ báo mà hơn 70 năm về trước, Thomas Edison đã in trên xe lửa. Không những chỉ có Henry Ford là người kính trọng Thomas Edison mà hầu hết các người cộng sự của nhà Đại Phát Minh đều kính mến ông cho tới khi ông qua đời.

Trong suốt cuộc đời tận tụy, Thomas Edison đã lãnh tất cả 1,097 bằng phát minh. Thomas Edison là gương sáng của người tự học. Ngoài nền giáo dục do mẹ ban cho, Edison tìm học tại các thư viện công cộng. Tính ra ông đã đọc hơn 10,000 cuốn sách nhờ cách “ăn bớt thời giờ làm việc để ngốn hết 3 cuốn sách mỗi ngày”. Trí nhớ và óc thông minh siêu việt của ông đã giúp ông thấu hiểu và lưu trữ được tất cả kiến thức thu thập cho tới khi chết. Ngoài học vấn về Khoa Học và Sử Học, Thomas Edison còn là một học giả chuyên khảo cứu nền Văn Minh Hy Lạp và La Mã.

Lòng tận tụy đối với Nhân Loại của Thomas Alva Edison đã được ông thực hiện đúng như câu nói mà ông thường nhắc nhở: “Tổ Quốc của tôi là Thế Giới và Tôn Giáo của tôi là làm Việc Thiện”.
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
Albert Einstein (1879-1955)
Nhà bác học Albert Einstein (1879-1955)

anhxtanh.jpg

Cuộc đời và sự nghiệp

Tuổi trẻ không may mắn

Anbe Anhxtanh (Anbe Einstein) sinh năm 1879 tại Ulm, một thị trấn nhỏ miền nam nước Đức, trong một gia đình gốc Do Thái. Bố Anbe khi nhỏ có năng khiếu về toán, nhưng vì nhà nghèo chỉ học xong bậc trung học, không lên đại học được. Mẹ Anbe chơi dương cầm rất hay và có giọng hát tuyệt vời. Với một cửa hiệu buôn bán nhỏ, gia đình Anhxtanh chỉ tạm đủ ăn, nhưng sống trong một không khí lạc quan, đầm ấm, âm nhạc và văn học cổ điển Đức luôn luôn là niềm vui của cả nhà. Năm 1880, gia đình chuyển đến Munkhen.

Anbe là một cậu bé hiền lành ít nói, ít nô đùa với bạn bè. Nhưng cậu đã nổi tiếng là một chú bé công bằng và biết suy nghĩ. Khi bạn bè có điều gì xích mích, tranh cãi nhau, thường đến nhờ cậu phân xử. Lên 6 tuổi, Anbe đã học chơi vĩ cầm, nhưng chưa thích thú gì lắm, mặc dù vẫn chăm tập luyện. Phải nhiều năm sau đó, khi tập chơi những bản xônat của Môda, Anbe mới thấy những nét nhạc hài hoà, duyên dáng cuốn hút mình, và mới thực sự miệt mài, kiên trì luyện tập, trở thành người chơi vĩ cầm giỏi, say sưa với âm nhạc.

Năm 10 tuổi, học xong tiểu học, Anbe vào học trường trung học Munkhen. Cậu vừa học, vừa giúp bố mẹ trong việc kinh doanh. Khi 12 tuổi, lúc chuẩn bị bước vào năm học mới lần đầu tiên cậu cầm trong tay cuốn sách giáo khoa hình học. Tò mò đọc thử vài trang đầu, cậu bị sự lập luận chặt chẽ và đẹp đẽ của cuốn sách lôi cuốn, và nhiều ngày sau đó, cậu miệt mài đọc cho đến trang cuối cùng. Đọc xong, Anbe rất thích thú và khâm phục cái có lí đến đâu thì căm ghép cái phí lý, cái tuỳ tiện đến đấy. Trường trung học Munkhen lúc đó đã toát ra một không khí quân phiệt, thầy đối với trò không khác gì cai đối với lính, trong giờ học, phải nói theo ý thầy, không được có ý kiến khác. Anbe nổi tiếng là một học trò bướng bỉnh, thầy giáo dạy tiếng Đức có lần đã nói: "Anxtanh, em lớn lên sẽ chẳng làm được cái tích sự gì đâu". Tư tưởng bài Do Thái cũng đã lan đến trường, và cậu bé ương bướng gốc Do Thái đó đã bị xoá tên, không cho học ở đó nữa, mặc dù khi đó cậu là học sinh giỏi nhất lớp về toán và vật lý.

Gia đình Anhxtanh chuyển sang Thuỵ Sĩ để tránh sự đàn áp người Do Thái. Anbe tiếp tục học ở tường trung học Arau, nổi tiếng là một nhà trường mẫu mực. Không khí tự do lành mạnh của nhà trường: "một làn gió hoài nghi tươi mát", như sau này Anhxtanh nhận xét,- không bắt học sinh cúi đầu thừa nhận cái gì mà mình chưa tin, khiến cho Anbe hồ hởi học tập và tốt nghiệp vào loại ưu.

Việc kinh doanh vẫn không tốt đẹp gì, nhưng bố Anbe cố cho anh được tiếp tục học. Anbe vào thẳng trường bách khoa Zurich mà không phải thi, anh chọn khoa sư phạm, khoa đào tạo giáo viên toán và vật lý. Trường này có nhiều giáo sư giỏi, và ngoài giờ học Anbe còn say sưa đọc kỹ các công trình của các nhà vật lý nổi tiếng: Măcxoen, Hemhôxơ, Kiasôp, Bôndơman... chẳng bao lâu Anbe đã biết cách chọn lấy cái gì cho phép đi sâu vào bản chất, và bỏ qua cái gì chỉ làm mệt óc một cách không cần thiết. Anbe vùng vẫy trong vật lí học tựa như cá trong nước, nhưng chẳng bao giờ nhớ được vận tốc âm trong không khí là bao nhiêu, bởi vì "tìm trong cuốn sách tra cứu nào cũng thấy thì nhớ làm gì cho nặng đầu?" Anhxtanh tốt nghiệp xuất sắc trường Bách khoa, nhưng vẫn nổi tiếng là một sinh viên vô kỉ luật và tự do chủ nghĩa. Đặc biệt quan hệ của anh với giáo sư Vêbe rất căng thẳng. Vêbe giảng bài hấp dẫn, nhưng tư tưởng của ông là cũ kĩ, ông không chấp nhận những cái mới trong vật lí học. Anhxtanh không bao giờ nghe ông giảng, chỉ tự đọc sách và đến làm thí nghiệm. Khi tiếp xúc với ông, có lần anh không nói "thưa giáo sư", mà chỉ nói "'thưa ông Vêbe". Vêbe cũng không tha thứ anh về những cái đó. Cuối khóa học, tất cả sinh viên của tổ anh đều được ông giữ lại làm việc ở trường, trừ một mình anh phải ra đi. Hai năm liền Anhxtanh không có việc làm, chỉ thỉnh thoảng nhận dạy học ngắn hạn ở một trường nào đó, hoặc kèm cặp cho một học sinh nào đó. Anh không thể dựa mãi vào gia đình, vì ông bố làm ăn cũng chật vật. Anh sống tự lập, bữa đói bữa no,"túng thiếu gay gắt đến nỗi tôi không thể suy nghĩ về một vấn đề trừu tượng nào cả". Nhưng Anhxtanh vẫn lạc quan và hy vọng, chỉ trong khi viết thư cho bạn rất thân anh mới bông đùa tự gọi mình là "con người không thành đạt".

Những phát minh vĩ đại của một viên chức hạng ba

Hai năm chật vật, lo ặn từng bữa, đã khiến Anhxtanh mắc bệnh đau gan, căn bệnh này sẽ còn dằn vặt anh suốt đời nữa. Anh luôn luôn oán trách giáo sư Vêbe đã làm khổ anh, và chặn đứng con đường đi vào khoa học, mà khoa học đối với anh từ lâu đã là một niềm mê say không gì thay thế nổi. Nhưng bạn bè anh không bỏ anh. Mùa hè năm 1902, do ông bố một người bạn thân giới thiệu, Anhxtanh được nhận đến làm việc ở Phòng đăng kí phát minh thành phố Becnơ, với chức danh "giám định viên kĩ thuật hạng ba". Sau một thời gian, anh đã nắm vững được công việc, đối với mỗi phát minh xin đăng kí, anh đã nhanh chóng và dễ dàng làm nổi rõ được bản chất của những vấn đề kĩ thuật, và viết bản kết luận một cách gọn gàng, rõ ràng, lôgic. Anh thích thú với công việc này, vì nó bắt phải suy nghĩ, cân nhắc, và nó thúc đẩy tư duy vật lí. Một điều quan trọng nữa là nó kéo anh ra khỏi cảnh bần cùng, tạo cho anh một vị trí khiêm tốn nhưng vững bền. Với đồng lương bé nhỏ, anh đã cảm thấy giàu có và hài lòng, vì ngoài tám giờ làm việc, anh lại có điều kiện ung dung để nghiên cứu vật lí học. Giám đốc cơ quan cũng hài lòng với công việc của anh. Một thời gian sau, anh được tăng lương, nhưng anh đã ngạc nhiên hỏi :"Sao cho tôi lắm tiền thế này để làm gì?"

Ba năm liền sau đó là một thời gian thật hạnh phúc và hết sức phong phú đối với Anhxtanh. Anh cùng một số bạn trẻ ý hợp tâm đầu luôn luôn gặp mặt nhau, và nhóm bạn đó tự gọi nhau là "Viện hàn lâm Ôlimpia". Chiều chiều họ hay gặp nhau sau giờ làm việc, cùng nhau ăn cơm, rồi cùng nhau đọc sách về vật lí học và triết học, đọc tiểu thuyết, ngâm thơ, tranh luận với nhau, nghe Anhxtanh kéo vĩ cầm những nhạc phẩm của Bakhơ, Sube và nhất là của Môda. Chiều thứ bẩy, có khi họ kéo nhau lên núi chơi, và trò chuyện, tranh luận suốt đêm, sáng sớm ngắm cảnh mặt trời mọc, rồi xuống núi điểm tâm, và trở về nhà mệt mỏi và sung sướng. Ba năm như vậy đã tạo cho Anhxtanh một niềm vui lớn, một sự yên tĩnh trong tâm hồn, để tư duy khoa học được thả sức bay bổng.

Năm 1905, chỉ trong vòng một năm, Anhxtanh đã có năm công trình nghiên cứu có giá trị đăng trên "Biên niên vật lí học", là một trong những tạp chí khoa học có tín nhiệm nhất lúc bấy giờ. Công trình thứ nhất là một nghiên cứu nhỏ về kích thước của phân tử. Công trình thứ hai nói về hiệu ứng quang điện, trong công trình này Anhxtanh nêu ra lí thuyết về lượng tử ánh sáng. Ánh sáng không những bức xạ gián đoạn như giả thuyết của Plăng, mà còn lan truyền và bị hấp thụ một cách gián đoạn nữa. Trong công trình thứ ba, Anhxtanh dựa vào thuyết động học phân tử để giải thích bản chất của chuyển động Braonơ (Brown). Công trình thứ tư là một sự trình bày tóm tắt thuyết tương đối hẹp. Công trình thứ năm là một khảo sát ngắn gọn về công thức $$E = mc^2$$. Đó là những công trình hết sức cơ bản, đặc biệt là công trình thứ tư, đánh dấu sự ra đời của thuyết tương đối hẹp. Chúng góp phần quan trọng tạo ra một bước ngoặc mới trong vật lí học đầu thế kỉ XX.

Thành tựu nghiên cứu của Anhxtanh năm 1905 thật đáng kinh ngạc. Anhxtanh lúc đó mới 26 tuổi, chưa từng học ở một trường Đại học tổng hợp nổi tiếng nào, không có liên hệ với một trường phái vật lí học nào, và không được một nhà bác học lỗi lạc nào chỉ đạo. Sau này, Anhxtanh nhớ lại rằng cho tới lúc 30 tuồi vẫn chưa được gặp một nhà vật lí học thực thụ. Cho đến tận bây giờ, các nhà sử học vẫn chịu bó tay không tìm được câu trả lời cho loại câu hỏi: Anhxtanh từ đâu mà xuất hiện? Cái gì đã làm cho Anhxtanh trở thành Anhxtanh? Quả vậy, tại sao thuyết tương đối không được phát minh bởi Lorenxơ, bởi Poanhcarê, những nhà bác học lừng danh đang nghiên cứu theo cùng một hướng như thế? Tại sao nó lại được phát minh bởi một viên chức cấp thấp, một giám định viên hạng ba? Phải chăng sức mạnh thiên tài của Anhxtanh là ở chỗ ông được vũ trang bằng một phương pháp, một quan điểm hoàn toàn mới?

Anhxtanh đã có nhận định về tình hình khoa học thời đó: ở một vài lĩnh vực, nó phát triển phong phú, nhưng trong những vấn đề có tính nguyên tắc, nó bị sự trì trệ, giáo điều kìm hãm. Anhxtanh không suy nghĩ như mọi người, theo cách suy nghĩ "được chấp nhận", mà theo cách suy nghĩ mà linh cảm vật lí và cách lập luận chặt chẽ gợi ra là nên theo. Anhxtanh đã mạnh dạn chấp nhận một quan điểm mới, đoạn tuyệt với quan niệm quen thuộc về không gian và thời gian, dám chấp nhận những kết quả kì quặc, có vẻ như phi lí, trong khi Poanhcarê, Lorenxơ cũng đang tiến dần đến các kết quả như vậy mà không dám công bố.

Cần nói thêm rằng đây không phải là một sự liều lĩnh nhất thời, đột xuất. Khi còn là học sinh trung học ở Arau, Anhxtanh đã băn khoăn tự hỏi: nếu bây giờ ta chuyển động với vận tốc bằng vận tốc ánh sáng, thì sẽ thấy sóng điện từ như thế nào? Phải chăng nó vẫn có đủ các nút, các bụng liên tiếp nhau, nhưng nút và bụng sẽ đứng yên tại chỗ, và sóng điện từ như bị chết cứng, không chuyển động theo thời gian nữa? Cái băn khoăn đó cứ ám ảnh Anhxtanh mãi, và đòi hỏi phải có câu giải đáp... có lẽ thuyết tương đối đã nẩy mầm ngay từ lúc ấy?

Sau này, khi ông đã trở thành một nhà bác học danh tiếng, có nhà báo hỏi tài năng của ông là do kế thừa của cha hay của mẹ. Ông trả lời: "Tôi chẳng có tài năng nào cả. Tôi chỉ có một lòng ham hiểu biết ghê gớm".
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
f biến thiên[ĐH 2012] $\omega$ biến thiên, cho $L$. Tính $R$
Bài toán
Đặt điện áp $u={{U}_{0}}\cos\left( \omega t \right)$ (V) ($U_0$ không đổi, $\omega$ thay đổi được) vào hai đầu đoạn mạch gồm điện trở thuần $R$, cuộn cảm thuần có độ tự cảm $L=\dfrac{4}{5\pi}$ H và tụ điện mắc nối tiếp. Khi $\omega= \omega_0$ thì cường độ dòng điện hiệu dụng qua đoạn mạch đạt giá trị cực đại $I_m$.
Khi $\omega= \omega_1$ hoặc $\omega= \omega_2$ thì cường độ dòng điện cực đại qua đoạn mạch bằng nhau và bằng $I_m$. Biết $\omega_1-\omega_2 = 200\pi rad/s$. Giá trị của $R$ bằng:
A. $200 \Omega.$
B. $150\Omega.$
C. $160\Omega.$
D. $50\Omega.$
 
Last edited:
Lil.Tee đã viết:
Đặt điện áp [font=Calibri, sans-serif]$u={{U}_{0}}\cos \left( \omega t \right)$[/font] (V) ($U_0$ không đổi, $\omega $ thay đổi được) vào hai đầu đoạn mạch gồm điện trở thuần $R$, cuộn cảm thuần có độ tự cảm $L=\dfrac{4}{5\pi }$ H và tụ điện mắc nối tiếp. Khi $\omega = \omega _0$ thì cường độ dòng điện hiệu dụng qua đoạn mạch đạt giá trị cực đại $I_m$.
Khi $\omega = \omega _1$ hoặc $\omega = \omega _2$ thì cường độ dòng điện cực đại qua đoạn mạch bằng nhau và bằng $I_m$. Biết $\omega _1-\omega _2 = 200\pi \ \left(\text{rad}/\text{s}\right)$. Giá trị của $R$ bằng:
A. $200 \Omega .$
B. $150\Omega .$
C. $160\Omega .$
D. $50\Omega .$
$I_m = \dfrac{U}{R}$ khi $\omega _0^2 = \dfrac{1}{LC} \Rightarrow C = \dfrac{5\pi }{4\omega _0^2}$
Khi $\omega _1$ và $\omega _2$ thì $I = \dfrac{I_m}{\sqrt{2}}$
$ \Rightarrow \omega _0^2 = \omega _1\omega _2$ và $R = Z_L - Z_C = \dfrac{4\omega _1}{5\pi } - \dfrac{4\omega _0^2}{\omega _1.5\pi } = \dfrac{4}{5\pi }\left(\omega _1 - \omega _2\right) = 160\Omega $
9clubCuộc sống càng hiện đại, nhu cầu giải trí của người ta càng cao thêm. Cá độ online 9CLUB cũng là một trong các dịch vụ xuất hiện theo nhu cầu giải trí của mọi người. Giống như xổ số, đua ngựa, chơi bài hay các hình thức mua vui có thưởng khác, cá cược internet 9CLUB có điểm chung là bạn phải bỏ tiền thật ra để cá cược vào các dự đoán của mình.tong-quan-ve-nha-cai-9club-640x300.png
 
Last edited:
Lil.Tee đã viết:
Đặt điện áp [font=Calibri, sans-serif]$u={{U}_{0}}\cos \left( \omega t \right)$[/font] (V) ($U_0$ không đổi, $\omega $ thay đổi được) vào hai đầu đoạn mạch gồm điện trở thuần $R$, cuộn cảm thuần có độ tự cảm $L=\dfrac{4}{5\pi }$ H và tụ điện mắc nối tiếp. Khi $\omega = \omega _0$ thì cường độ dòng điện hiệu dụng qua đoạn mạch đạt giá trị cực đại $I_m$.
Khi $\omega = \omega _1$ hoặc $\omega = \omega _2$ thì cường độ dòng điện cực đại qua đoạn mạch bằng nhau và bằng $I_m$. Biết $\omega _1-\omega _2 = 200\pi \ \left(\text{rad}/\text{s}\right)$. Giá trị của $R$ bằng:
A. $200 \Omega .$
B. $150\Omega .$
C. $160\Omega .$
D. $50\Omega .$
$\begin{cases} \omega = \omega _1 \\
\omega = \omega _1
\end{cases} \; \; \Longrightarrow \begin{cases}
I_{01}=I_{02} =I_m\\
\omega _1.\omega _2={\omega _0}^2=\dfrac{1}{LC}
\end{cases}$
$\rightarrow I_{1}=I_{2} =\dfrac{I_m}{\sqrt{2}} \Longrightarrow \dfrac{U}{\sqrt{R^2+\left(Z_{L_1}-Z_{C_1}\right)^2}}= \dfrac{U}{\sqrt{2}R}\Longrightarrow R=| Z_{L_1}-Z_{C_1}| $

$=| \omega _1-\dfrac{1}{\omega _1.\dfrac{1}{\omega _1.\omega _2. L}}|=| \omega _1-\omega _2| L=\boxed{160 \Omega }$
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
Chọn phát biểu đúng về đoạn mạch xoay chiều
Câu hỏi
Trong một đoạn mạch điện xoay chiều R, L, C mắc nối tiếp, biết điện trở thuần $R_0$, cảm kháng${Z}_{L}\neq 0$, dung kháng${Z}_{C}\neq 0$. Phát biểu nào sau đây đúng?
A. Cường độ hiệu dụng của dòng điện qua các phần tử R, L, C luôn bằng nhau nhưng cường độ tức thời thì chắc đã bằng nhau.
B. Hiệu điện thế hiệu dụng giữa hai đầu đoạn mạch luôn bằng tổng hiệu điện thế hiệu dụng trên từng phần tử.
C. Hiệu điện thế tức thời giữa hai đầu đoạn mạch luôn bằng tổng hiệu điện thế tức thời trên từng phần tử.
D. Cường độ dòng điện và hiệu điện thế tức thời luôn khác pha nhau.
 
sparkling_star đã viết:
Trong một đoạn mạch điện xoay chiều R, L, C mắc nối tiếp, biết điện trở thuần $R_0$, cảm kháng${Z}_{L}\neq 0$, dung kháng${Z}_{C}\neq 0$. Phát biểu nàosau đây đúng ? A. Cường độ hiệu dụng của dòng điện qua các phần tử R, L, C luôn bằng nhau nhưng cường độ tức thời thì chắc đã bằng nhau. B. Hiệu điện thế hiệu dụng giữa hai đầu đoạn mạch luôn bằng tổng hiệu điện thế hiệu dụng trên từng phần tử. C. Hiệu điện thế tức thời giữa hai đầu đoạn mạch luôn bằng tổng hiệu điện thế tức thời trên từng phần tử. D. Cường độ dòng điện và hiệu điện thế tức thời luôn khác pha nhau.
Chọn C
Em chỉ nhớ luôn có công thức đối với mạch nối tiếp:
\[{u_{AB}}^{\rightarrow}={u_R} ^{\rightarrow} +{u_L} ^{\rightarrow} +{u_C} ^{\rightarrow} \]
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
Câu chuyện tình yêu cảm động nhất từ trước đến nay "Ly cafe nhạt màu"...
Câu chuyện tình yêu cảm động nhất từ trước đến nay "Ly cafe nhạt màu"...

1. Người khách tình cờ

Tôi biết đến quán cà phê này do một người bạn giới thiệu. Đó là một nơi khá yên tĩnh, với những bản nhạc nhẹ nhàng và êm ái, nơi tôi cảm thấy yên bình cũng như thanh thản trong tâm hồn vốn mệt mỏi với công việc từ lúc bình minh chào ngày mới.

Tôi bắt đầu để ý đến cô gái trẻ ngồi ở bàn đối diện khi cô ta đi một mình vào quán nhưng anh nhân viên lại đem ra hai ly nước. Một ly cà phê sữa cho cô và một ly đen đá ít đường cho người- nào- đấy sẽ ngồi ở chiếc ghế đối diện. Có lẽ, cô ấy đang chờ một người bạn nào đó, là bạn trai chăng? Phải rồi, vì hôm nay là cuối tuần mà! Các cặp tình nhân trẻ thì thường hay hẹn hò ở các quán cà phê lãng mạn vào dịp cuối tuần. Bỗng nhiên tôi phì cười, không hiểu sao tôi lại bắt đầu có sở thích để ý chuyện người khác. Phải chăng vì đôi mắt buồn trên gương mặt lạnh lùng của cô gái trẻ có một sức hút mãnh liệt với tôi?

Anh nhân viên trong quán tiến đến gần chỗ ngồi của cô , mỉm cười nhìn cô rồi hỏi:

- Tuần này của hai anh chị thế nào?
+ Vẫn thế anh ạ! Hạnh phúc và bình yên.

Cô gái trẻ vẫn chắp tay vào nhau, mỉm cười rồi nhẹ nhàng đáp trả. Vậy ra, tôi đã đoán đúng. Cô ấy đang chờ người yêu. Và hai người họ là khách quen của quán cà phê này
Một tiếng đồng hồ trôi qua, tôi nóng lòng muốn xem mặt anh chàng người yêu tốt số ấy là ai, nhưng vẫn không thấy anh ta đến. Đàn ông con trai mà lại để người yêu mình chờ đợi mỏi mòn như thế, thật không lịch sự chút nào.

Cô gái trẻ từ nãy giờ vẫn chăm chú nhìn vào màn hình di động trên tay, lâu lâu lại khẽ cười, nhưng đôi mắt vẫn đượm một chút gì đấy buồn và day dứt. Thỉnh thoảng cô liếc nhìn ly cà phê đen như màu mắt đang từ từ nhạt màu đi khi đá dần tan ra. Thời gian làm nhạt phai mọi thứ...?

Rồi tôi bỡ ngỡ khi cô gái trẻ gọi tính tiền và bước ra cửa, anh nhân viên buông một câu chào khó hiểu :

- Cám ơn hai anh chị và chúc một buổi tối cuối tuần hạnh phúc. Hẹn gặp cả hai vào tối thứ bảy tuần sau..

Tôi vẫn tròn xoe đôi mắt và cố gắng hiểu những gì đang diễn ra. Cô gái bỗng quay lại nhìn vào mắt tôi rồi mỉm cười. Có lẽ cô ấy đã biết có một kẻ tò mò đã trộm nhìn mình từ nãy đến giờ.

2. Nhân viên lâu năm

Tôi làm part-time cho quán cà phê này từ khi là sinh viên năm nhất. Tôi thích làm vào buổi tối, nhất là cuối tuần, khi những cặp tình nhân chọn nơi đây làm điểm hẹn hò, tôi đã chứng kiến được những chuyện tình lãng mạn, hài hước, và cả đau đớn nữa..

Vẫn như mọi buổi tối thứ bảy, cô gái ấy đến cùng với người yêu của mình. Tôi lập tức pha nước cho cả hai, như thường lệ, anh- cà phê đen và cô- cà phê sữa. Đã lâu rồi tôi không được nói chuyện với anh. Anh ấy là một người vui tính, nhưng rất điềm đạm và cư xử lịch thiệp, cũng như chiều chuộng người yêu mình hết lòng.

Tôi đặt ly cà phê sữa cho cô, và ly cà phê đá cho anh. Tôi vẫn pha cho anh nhiều cà phê hơn những người khách khác - vì anh là một người khách đặc biệt của quán chúng tôi.

- Tuần này của hai anh chị thế nào? - Tôi hỏi một câu quen thuộc như thường lệ. Thường thì anh sẽ là người trả lời. Nhưng bây giờ thì không.
+ Vẫn thế anh ạ! Hạnh phúc và bình yên - Cố ấy mỉm cười nhìn tôi và đáp trả.
Một tiếng đồng hồ trôi qua, tôi để ý có một vị khách ngồi gần cửa sổ suốt từ nãy đến giờ vẫn nhìn chăm chăm vào hai người họ. À không, chính xác là vào cô ấy. Cô đang mở điện thoại di động và xem lại hình ảnh hoặc tin nhắn gì đấy - tôi đoán thế - có lẽ là những tin nhắn của anh và hình hai người chụp bằng máy di động.

Khi ly cà phê đen của anh đã tan hết đá. Cô gọi tính tiền và bước ra cửa. Tôi mỉm cười chào hai người :

- Cám ơn hai anh chị và chúc một buổi tối cuối tuần hạnh phúc. Hẹn gặp cả hai vào tối thứ bảy tuần sau..

Cô nhìn về phía cửa sổ, mỉm cười với vị khách đang tròn xoe đôi mắt vì câu chào của tôi. Tôi không mấy ngạc nhiên, vì luôn có những vị khách tò mò về câu chuyện tình yêu của hai người họ.

3. Cô gái trẻ

Tôi và anh là bạn thân từ nhỏ. Đến hết năm cấp 3, chúng tôi quen nhau và hạnh phúc đến tận bây giờ. Nửa năm trước, anh dắt tôi vào một quán cà phê khá yên tĩnh, với những bản nhạc nhẹ nhàng và êm ái, làm thanh thản và dịu mát tâm hồn tôi. Khi tôi và anh cãi nhau, chúng tôi thường đến quán cà phê này, và sau đó thì lại làm lành với nhau, rất dễ dàng.

Sau một thời gian lui tới quán cà phê này vào mỗi tối cuối tuần thì chúng tôi đã trở thành khách quen của quán. Anh bắt chuyện với một nhân viên trạc tuổi chúng tôi, cậu ấy có vẻ thích cách nói chuyện của anh, và sau đó thì ba chúng tôi quen nhau.

Hôm nay, tôi lại đến đây cùng với anh. Tôi không cần gọi nước vì khi thấy chúng tôi, cậu nhân viên ấy sẽ biết mình nên pha nước gì. Ly cà phê đen cho anh lúc nào cũng được pha với rất nhiều cà phê, và chỉ bỏ một ít đường, vì anh thích uống như thế, cậu nhân viên cũng biết như thế.

- Tuần này của hai anh chị thế nào?- Cậu ấy hỏi chúng tôi một câu hỏi quen thuộc như thường lệ. Nếu như mọi khi, tôi sẽ để anh trả lời. Nhưng bây giờ thì không.
+ Vẫn thế anh ạ! Hạnh phúc và bình yên… - Tôi trả lời cậu ấy thật tự nhiên...
Một tiếng đồng hồ trôi qua, vị khách ở bàn đối diện gần cửa sổ vẫn nhìn vào tôi chăm chăm từ nãy giờ. Tôi cười nhạt, chẳng để tâm nữa, rồi lại mở di động và đọc những tin nhắn của anh từ nửa năm trước. Bây giờ, anh không còn nhắn tin cho tôi nữa, nhưng đọc lại những tin nhắn của anh, tôi vẫn cảm thấy hanh phúc. Mỗi khi chúng tôi giận nhau, anh luôn nhắn tin làm lành trước, và khi kết thúc một tin nhắn, anh thường để câu này vào cuối tin. "Hãy yêu anh như thể hôm nay là ngày cuối cùng ta bên nhau, em nhé..!"

Tôi nhìn ly cà phê đen đang dần đổi màu, với lớp đá đã tan thành nước ở phía trên, anh vẫn không uống dù chỉ một ít cùng tôi. Tôi thấy đắng ở cổ, nhưng vẫn cố kìm nén để nước mắt không rơi, vì tôi không muốn anh nhìn thấy tôi khóc.

Khi tôi gọi tính tiền và bước ra cửa, cậu nhân viên mỉm cười chào chúng tôi :

- Cám ơn hai anh chị và chúc một buổi tối cuối tuần hạnh phúc. Hẹn gặp cả hai vào tối thứ bảy tuần sau..

Thường thì anh sẽ quay lại và nói với cậu ấy rằng "Tất nhiên rồi! Vì chúng tôi là cặp tình nhân hạnh phúc nhất thế gian này…" Nhưng hôm nay, anh vẫn không nói gì.

Vị khách ở gần cửa sổ vẫn cứ nhìn hai chúng tôi. Tôi mỉm cười với ông ta rồi bước ra khỏi quán, hoà vào dòng người tấp nập ngoài kia, với những tiếng xe cộ réo lên inh ỏi, những ngọn đèn đường làm mắt tôi nhạt nhoà đẫm lệ…
Cuối cùng thì, tôi vẫn phải khóc, vì nhớ anh... Một người đã ra đi vĩnh viễn từ nửa năm trước.
 
Một sợi dây đàn hồi căng ngang, đang có sóng dừng ổn định. trên dây, A là 1 nút, B là 1 điểm bụng gầ
Bài 1: Một sợi dây đàn hồi căng ngang, đang có sóng dừng ổn định. trên dây, A là 1 nút, B là 1 điểm bụng gần A nhất., C là trung điểm của AB với $AB= 10cm$. biết khoảng thời gian ngắn nhất giữa 2 lần mà li độ dao động của phần tử tại C bằng li độ dao động của phần tử tại B là 0,2 (s). tốc độ truyền sóng trên dây là bao nhiêu?

Bài 2: Hai điểm M N cùng nằm trên 1 phương truyền sóng cách nhau $\dfrac{\lambda }{3}$. tại thời điểm t. khi li độ tại M là ${U}_{M}= 3$ thì li độ tại N là ${U}_{N}= -3$. biên độ sóng bằng?
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
Bài 1:
Vì B là bụng gần A nhất nên : $AB=\dfrac{\lambda}{4}$
Suy ra:$\lambda=40cm$
Ta có:
\[ A_C=2A.\mid{\sin{2\pi.\dfrac{\lambda}{8.\lambda}}}\mid\]
Suy ra $A_C=\dfrac{A}{\sqrt2}$
Từ đường tròn lượng giác suy ra:$\dfrac{T}{4}=0,2s \Rightarrow T=0,8s$
\[ v=\dfrac{\lambda}{T}=50cm/s\]
 
baodung87 đã viết:
Bài 2: Hai điểm M N cùng nằm trên 1 phương truyền sóng cách nhau $\dfrac{\lambda }{3}$. tại thời điểm t. khi li độ tại M là ${U}_{M}= 3$ thì li độ tại N là ${U}_{N}= -3$. biên độ sóng bằng?
Tại M có phương trình truyền sóng: $3=A\cos(\omega.t)$
Tại N có phương trình truyền sóng: $ -3=A\cos(\omega.t-\dfrac{2\pi}{3}) \Leftrightarrow 3=A\cos(\omega.t+\dfrac{\pi}{6})$
Giải ra ta được $A=2\sqrt3$
 
Lần chỉnh sửa cuối bởi 1 quản trị viên:
Tia laser giúp phi cơ bay quanh năm
Trong tương lai phi cơ không người lái có thể bay quanh năm suốt tháng trên trời nhờ công nghệ sạc pin bằng tia laser dưới mặt đất[prbreak]...[/prbreak].
may-bay.jpg
Một máy bay không người lái Stalker. Ảnh: Space.

Viễn cảnh phi cơ không người lái bay vĩnh viễn trở nên rõ ràng hơn sau khi Lockheed Martin – tập đoàn sản xuất khí tài quân sự tại Mỹ - thử nghiệm công nghệ sạc pin cho phi cơ bằng tia laser. Chuyến bay thử nghiệm diễn ra trong một đường hầm rộng. Các nhân viên kỹ thuật tạo ra gió trong đường hầm để mô phỏng điều kiện bay thực tế.

Stalker, tên của phi cơ tự động trong thử nghiệm, đã bay liên tục trong 48 giờ. Trong quá trình bay, nó tiếp nhận tia laser từ mặt đất để sạc pin. Tia laser được phóng bởi một hệ thống đặc biệt của công ty LaserMotive, Space đưa tin.

“Thử nghiệm này là một trong những bước cuối cùng trong quá trình đưa công nghệ sạc pin máy bay bằng tia laser ra thực địa”, Tom Nugent, chủ tịch của LaserMotive, phát biểu.
LaserMotive từng đoạt giải cao nhất trong một cuộc thi thiết kế thang máy không gian của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA). Trong cuộc thi đó, NASA yêu cầu các ứng viên chế tạo những cỗ máy có khả năng nhận điện từ tia laser để di chuyển dọc theo dây cáp lên trên trời.
“Chúng tôi cảm thấy hài lòng với kết quả của chuyến bay thử. Năng lượng của laser có thể trở thành một thứ đầy triển vọng trong việc kéo dài thời gian bay của Stalker”, Tom Koonce, giám đốc chương trình máy bay Stalker của Lockheed Martin, phát biểu.

Trong thử nghiệm tiếp theo, Koonce và các đồng nghiệp sẽ cho phi cơ Stalker bay thử ngoài trời.

Theo vnexpress.net
 
Xác định loại thấu kính và độ tụ
Bài toán
Một người cận thị có điểm cực cận cách mắt $11cm$. Để đọc được sách đặt cách mắt $26cm$ người này cần đeo cách mắt $1cm$ kính loại gì và độ tụ bao nhiêu ?
A. Kính hội tụ và có $D=4dp$
B. Kính hội tụ và có $D=6dp$
C. Kính phân kỳ và có $D=-6dp$
D. Kính phân kỳ và có $D=-4dp$
 

Thống kê diễn đàn

Chủ đề
11,791
Bài viết
51,477
Thành viên
31,601
Thành viên mới nhất
pigpig

Members online

No members online now.
Top